>> About Dr. Barrios
>> Self Programmed Control (SPC)
>> Articles by Dr. Barrios
>> Seminars
>> Books by Dr. Barrios
 
 


Sự kỳ diệu của suy nghĩ (MOM) 
Chương trình nhằm giảm tỷ lệ học sinh bỏ học

Bản tóm tắt
Bài viết giới thiệu về một giải pháp toàn diện cho việc giải quyết những nhân tố chính dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học. Chương trình này gồm 4 phần chính, được gọi là sức mạnh của trí tuệ (MOM), mỗi một phần giới thiệu một trong những nội dung sau:

  1. Xây dựng tính tự chủ cho sinh viên;
  2. Dạy kỹ năng học tập cho sinh viên;
  3. Hướng dẫn học sinh tự kiểm soát stress; và
  4. Xây dựng tính tự chủ và kỹ năng kiểm soát stress cho giáo viên.
Những bài kiểm tra đầu tiên tại trường Trung học Cộng đồng Bắc Los Angeles với các sinh viên thực tập ( phần lớn là người Mỹ và Mexico) đã minh chứng mạnh mẽ cho hiệu quả của chương trình này. Qua một năm rưỡi tham gia chương trình, nhóm MOM đã tăng điểm phẩy trung bình cuối năm lên 3,8 ( Phẩy trung bình cuối năm = điểm trung bình nhân với điểm thi cuối kỳ) và tỉ lệ học sinh bỏ học giảm xuống còn 16% so với nhóm kiểm soát duy nhất kỹ năng học tập có điểm số trung bình giảm xuống 5,45 và phần trăm số học sinh bỏ học là 56%. Tương tự các buổi nghiên cứu kiểm soát được lên kế hoạch để kiểm tra tính hiệu quả của chương trình trong giai đoạn đầu thông qua trình độ phổ thông, tính hiệu quả của chương trình ở trình độ này được thể hiện rõ thông qua các bằng chứng đáng tin cậy.

Nguyên nhân chính dẫn đến thành công của chương trình đó chính là khả năng xây dựng lòng tin sâu sắc. Bằng việc cung cấp những phản hồi tích cực một cách trực tiếp trong tất cả các kỹ thuật được sử dụng, nó đã giúp xây dựng trong mỗi người, đặc biệt là trong khả năng đạt được mục đích của mỗi người ( cả giáo viên lẫn sinh viên ) một lòng tin mãnh liệt.

Điều kỳ diệu của suy nghĩ
Không còn chút nghi ngại nào trong việc cần thiết phải tiếp tục tìm kiếm giải pháp hiệu quả hơn để giải quyết tình trạng học sinh bỏ học. Thực tế cho thấy rất nhiều vấn đề xã hội ngày nay là phần lớn xuất phát từ số lượng lớn học sinh bỏ học. Theo thống kê của Senator Ted Kennedy(1988): “ Xã hội cũng đã phải trả giá cho tình trạng bỏ học ở học sinh, thông qua tình trạng thâm hụt ngân sách, tăng tiền viện trợ xã hội và tình trạng tội phạm cũng tăng theo.” 

Theo nghiên cứu của Braun(1993) chi phí cho tình trạng bỏ học ở Mĩ dưới dạng hình phạt tù, trợ cấp phúc lợi xã hội, tiền lương thấp và thuế bị thất thoát tiêu tốn khoảng 300 tỉ đô la mỗi năm. Và sự thất thoát lớn này đã xảy ra với chúng ta trong thời gian gần đây. Chẳng hạn, theo như bản thông báo của Jones(1977), Uỷ Ban Bầu Chọn Thượng Nghị Viện dựa trên nguyên tắc bình đẳng về trình độ học vấn nhận thấy trong năm 1969, những phụ nữ bỏ học có độ tuổi từ 24 đến 34 đã tiêu tốn của xã hội 71 tỉ đô la trong việc thất thoát thuế quốc gia và những người đàn ông thì lại lãng phí mất 237 tỉ đô la mà họ có thể kiếm được. Hơn thế nữa, phí tổn dành cho phúc lợi xã hội cũng tiêu phí hàng tỉ đô la.

Có lẽ vấn đề tội phạm và bạo lực là một mối quan tâm lớn nhất hiện nay. Điều đáng lo ngại là số đông học sinh bỏ học trong độ tuổi vị thành niên và số lượng học sinh sẽ bỏ học ngày một tăng nhanh theo cấp số mũ và tập trung chủ yếu ở các thành phố trên khắp đất nước Mĩ. Một bài báo của tạp chí Times Los Angeles gần đây (Nazario, 1994) thông báo rằng theo như số liệu điều tra của chính phủ, số trẻ em ở độ tuổi vị thành niên bị bắt vì có hành vi bạo lực tăng đến 50% trong giai đoạn 1985 - 1991 và cũng trong thời gian này số lượng trẻ em vị thành niên bị giết chết cũng đã tăng lên 100%. Bài báo có viết:

Ở Caliornia, nơi mà việc cung cấp súng kết hợp với sản suất thuốc nổ rất tràn lan, trẻ em ở độ tuổi vị thành niên phải sống một cuộc sống trong điều kiện hết sức khó khăn. Tỉ lệ tội phạm bị bắt giữ ở độ tuổi vị thành niên giữa những năm 1985 và 1991 đã tăng vọt khoảng 60%, điều đó làm cho California trở thành thành phố đứng hàng thứ 4 trên toàn quốc về tội phạm vị thành niên. Thêm vào đó, tỉ lệ thanh thiếu niên California tốt nghiệp phổ thông trung học trong bốn năm giảm từ 67% vào năm 1985 xuống còn 62% vào năm 1991(P.3).

Mối liên hệ giữa tình trạng học sinh bỏ học và tình trạng phạm tội đã được biết đến trong thời gian gần đây. Lui lại năm 1977, Jones (1977) đã chỉ ra rằng những người thất nghiệp đã từng bỏ học có số lần phạm tội nhiều hơn những người thất nghiệp nhưng chưa từng bỏ học là từ 6 đến 10 lần. Có đến 82% tù nhân ở Mĩ là những người đã từng bỏ học từ hồi còn học phổ thông(“ Theo chương trình cải cách giáo dục bộ môn nhân khẩu học”,1990). Và trong một số bang, như bang Texas, tỉ lệ học sinh bỏ học cao là 90% (“Tình Trạng Bỏ Học”, 1990). 

Như kết quả điều tra tình trạng tội phạm ngày càng leo thang, nhiều người ngày nay đang kêu gọi hãy bỏ tù nhiều người hơn và tăng thời gian ngồi tù và hình phạt đối với tội phạm bạo lực. Thật may mắn, có một số người lại có cái nhìn xa hơn về điều đó và họ lý giải rằng số tiền phải tiêu dùng cho việc ngăn ngừa và bỏ tù tội phạm ngày một nhiều hơn, lên tới hàng tỉ đô la, thế nên hãy hướng nhiều hơn đến việc cải thiện hệ thống giáo giục của chúng ta. 

Trả lời câu hỏi “ Anh nghĩ gì về chính sách tội phạm của tổng thống Clinton?” của phóng viên tạp chí Time ( ngày 23 tháng 8 năm 1993), phạm nhân Wilbert Rideau có án tù trung thân có nói rằng:

Tôi nhận thấy đã có nhiều sự cố gắng hơn trong việc đào tạo con người. Tội phạm là một vấn đề xã hội, và giáo dục là biện pháp ngăn ngừa duy nhất. Hãy nhìn tất cả chúng tôi, những kẻ tù tội; tất cả chúng tôi đều là học sinh bỏ học và học sinh trốn học, chúng tôi là điển hình cho thất bại của hệ thống giáo dục nước ta. Hãy nhìn vào tình trạng trốn học và bạn sẽ biết được những tù nhân tương lai. Hãy đầu tư tiền của bạn vào đó ( ý nói hệ thống giáo dục ) (P.33).

Có một sự thật rằng, một vài quy trình đã được xây dựng từ một đến hai thập kỷ trước với mục tiêu làm giảm bớt tỉ lệ học sinh bỏ học, nhưng tôi không nghĩ rằng có bất kỳ người nào dám phủ nhận chuyện chúng ta còn cả một quãng đường dài phải đi phía trước. Trong đề tài hiện tại có đưa ra một bài viết về một chương trình đầy triển vọng, có tên gọi là Sự kỳ diệu của Suy Nghĩ (MOM), nhằm chấm dứt hẳn tình trạng học sinh bỏ học.

Chương trình này đánh vào tình trạng học sinh bỏ học theo bốn mặt chính sau: (1) Xây dựng tính tự chủ hơn cho sinh viên; (2) Dạy kỹ năng học tập hiệu quả cho sinh viên; (3) Hướng dẫn học sinh tự kiểm soát stress; và (4) Xây dựng tính tự chủ và kỹ năng kiểm soát stress cho giáo viên.

Hầu hết các nhà giáo đều công nhận rằng nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ thất bại cao đối với sinh viên là kỹ năng học tập của họ kém.Và chương trình này ra đời cung cấp nhiều lớp học kỹ năng nhằm giải quyết tình trạng này. Tuy nhiên, theo như cảnh báo của Carns & Carns (1991):

Những kỹ thuật truyền thống thường được dạy trong những khoá học kỹ năng đã cho thấy những hạn chế về mặt lợi ích. Việc đánh giá lại những tài liệu này đã chỉ ra rằng cần phải xem xét những phương pháp luyện tập hiện nay trước khi đưa vào ứng dụng trong những buổi dạy kỹ năng, chẳng hạn như tính tự chủ của học sinh…Tính tự chủ, hay lòng tin vào tính hiệu quả của mỗi người, tất cả đều có vai trò quan trọng trong thái độ tiếp nhận của học sinh ( Thomas và Rohwer 1986)…Tính tự chủ theo Thomas và Rohwer đó chính là khả năng tự tiếp thu kiến thức ở trường của học sinh (P.341). 

Theo nghiên cứu kinh điển của Bandura năm 1997: giả thiết cho rằng sự trông mong vào khả năng tự chủ của con người quyết định liệu những hành vi sao chép có được đưa ra hay không, và người ta sẽ dành bao nhiêu sức lực cũng như duy trì được khả năng tự tiếp thu trong bao lâu khi có rất nhiều chướng ngại cản trở cũng như có rất nhiều kinh nghiệm chống đối lại tư tưởng tự tiếp thu đó (P.191). Và vào năm 1997 Bloom cũng đã đặc biệt đề cập đến một điều tương tự như thế, Ông nói:" Khi một người sinh viên nhận thấy mình không còn đủ khả năng thực hiện thì ngay lập tức anh ta sẽ không toàn tâm để hoàn thành công việc tiếp theo của mình, khi gặp trở ngại khó khăn anh ta sẽ không kiên nhẫn, bền bỉ, và sẽ không quan tâm suy nghĩ gì về công việc của mình nữa"(PP 194-195). 

Nói một cách khác, trừ khi những sinh viên yếu kém có thể lần đầu tiên được giúp đỡ để tự tin vào bản thân và tin tưởng vào khả năng kiểm soát hay điều khiển các sự kiện diễn ra trong cuộc sống của chính mình - đặc biệt với việc quan tâm tới khả năng tiếp thu bài - mỗi sự cố gắng đều nhằm giúp đỡ họ cải thiện khả năng học tập ( chẳng hạn như các chương trình dạy các kỹ năng ), những sinh viên còn lại đều rơi vào tình trạng dốt đặc. Những sinh viên này đã có những phản ứng rất tiêu cực đối với trường học từ những lần thất bại trước đó, do đó bất kỳ sự cố gằng nào cũng sẽ thất bại vì họ không thực sự nỗ lực hết mình để cố gắng vượt qua. 

Tuy nhiên, đó không phải là một nhiệm vụ đơn giản để cố gắng thay đổi khả năng tiếp thu bài học của những sinh viên có vấn đề. Chúng tôi liên hệ tới lòng tin từ đó bắt đầu củng cố vững chắc từ sớm đối với các học sinh cấp 3 (Finn,1989) và đối với mỗi lứa tuổi trưởng thành thì tiến hành một cách kỹ càng hơn. Theo như bài trình bày của cuốn sách Chapman và Boersma(1980):

Rõ ràng trong nghiên cứu này, các học sinh chậm phát triển có trình độ tiếp thu kiến thức rất thấp. Hơn nữa, những đặc điểm tiêu cực này đã được hình thành từ những năm học cấp 3... Bloom(1976) và Hamachek(1978) cùng chỉ ra rằng những thái độ tiêu cực như thế này thường được hình thành từ những năm đầu của bậc tiểu học, thường là phản ứng trước những thất bại thường lặp lại trong những bài đọc gây ra tình trạng stress nặng cho người học. Chính vì vậy, những nghiên cứu hiện tại về khả năng tự tiếp thu kém đều kết hợp với những trẻ chậm phát triển ở cấp 3 là không có gì đáng ngạc nhiên (P.75). Thêm vào đó, một số nghiên cứu(ví dụ như: Kifer,1975) đã chỉ ra rằng khả năng tự tiếp thu kiến thức ở nhà trường có khuynh hướng trở nên tiêu cực hơn đối với những sinh viên lớn chậm hiểu, có lẽ bởi vì sự thất bại tích luỹ ngày càng nhiều hơn.(P2).

Thật là sai lầm khi cho rằng lòng tin mà đã được ghi nhớ một cách sâu sắc sẽ được thay đổi bởi một vài phương pháp tiếp cận giản đơn chẳng hạn như "lời động viên". Người ta cảm thấy rằng nguyên nhân chính của khó khăn trong việc giảm bớt tỷ lệ thất bại của sinh viên yếu kém là không dễ dàng thay đổi bản thân lòng tin tiêu cực đã hằn sâu trong họ, những thứ bắt nguồn từ chính sự thất bại này.

Ở đây chúng ta cần những phương pháp bất bình thường và thậm chí còn phải mạo hiểm. Hiện nay chúng ta cần phải có nhiều hơn nữa những cách tiếp cận mới và phi truyền thống kể từ khi các phương pháp cổ điển không còn đủ khả năng giải quyết vấn đề này nữa. Chúng ta cần phải tìm ra cách hiệu quả hơn bỏ qua tất cả những nền tảng tiêu cực đã được tích tụ, bằng một thời gian dài vừa đủ xây dựng lên khả năng tiếp thu mới và hiệu quả hơn, và phương pháp đó phải thật đơn giản và dễ hiểu. Chính phương pháp này sẽ giúp chúng ta tiếp cận chương trình Sức Mạnh của Trí Tuệ (MOM). 

Nhờ những thông tin phản hồi tích cực trực tiếp của các kỹ thuật đã sử dụng, người ta cảm thấy rằng điều đã khiến cho phương pháp MOM trở thành phương pháp hiệu quả trong việc làm giảm tỉ lệ học sinh bỏ học không chỉ bao hàm cách tiếp cận mà quan trọng hơn là khả năng tự xây dựng lòng tin của nó. Khả năng xây dựng lòng tin sẽ được làm rõ ràng như là khi bạn được giới thiệu cho từng phần của chương trình MOM.

XÂY DỰNG TÍNH TỰ CHỦ
Phần một, quá trình xây dựng tính tự chủ một cách hoàn thiện hơn được hoàn thành thông qua một chương trình có tên gọi là chương trình tự điều chỉnh hay chương trình SPC (Barrios, 1985a), trong đó, chương trình này đã sử dụng một loạt những minh chứng tuy đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục để trình bày cho sinh viên hiểu một cách nhanh chóng về sức mạnh và quyền năng của trí tuệ. Những kỹ năng này được coi là những kỹ năng xây dựng niềm tin- niềm tin vào sức mạnh trí tuệ bản thân, do đó nó đóng một vai trò quan trọng giúp tạo dựng ý thức cho sinh viên về tính tự chủ hay niềm tin vào khả năng của mình.

Những minh chứng này dựa trên cơ sở khả năng suy nghĩ tới việc sản sinh ra những phản ứng một cách tự động và thực tiễn. Trước tiên khả năng này giải thích cho sinh viên dựa trên nguyên lý phản xạ có điều kiện. Cụ thể là, thông qua sự liên tưởng lặp lại, các từ và các ý tưởng có thể tác động như là một tác nhân kích thích gợi lên những phản ứng đó và chúng sâu chuỗi lại với nhau.. Khái niệm phản xạ có điều kiện đễ dàng được thông qua với bài thuyết trình về " quả chanh " trong đó toàn bộ nhóm hay lớp học được yêu cầu hãy mường tượng mình đang được nếm một quả chanh có vị chua, chát và có hương thơm càng sinh động càng tốt. Không lâu sau nước bọt của mọi người trào ra và điều đó là do điều kiện trước đó, quả thực ý nghĩ có thể gây ra những phản xạ tự động.

Chúng ta biết rằng từ ngữ và các gợi ý không phải lúc nào cũng có thể sản sinh ra các phản ứng thích hợp. Đó là lí do tại sao lời khuyên chân thành thường xuyên được người ta nghe nhưng rồi lại bỏ ngoài tai. Tuy nhiên khả năng của các từ và các hình ảnh trong việc sản sinh phản ứng vẫn luôn tồn tại ở đó. Tất cả những gì chúng ta cần làm là đem chúng ra ngoài. Do đó, đây chính là những gì mà chương trình SPC làm. Chúng là một chương trình có tính hệ thống và mở rộng cho quá trình hình thành từ từ các phản ứng xuất phát từ những lời nói và những ý nghĩ tích cực. Hay theo một hướng khác, tiến trình này góp phần làm tăng niềm tin của mỗi người trong các trường hợp mà anh ta hoặc cô ta đang cố gắng thực hiện. Niềm tin được định nghĩa như là một sự tập trung vào một ý nghĩ để loại bỏ những ý nghĩ trái ngược khác. Do đó, niềm tin càng mạnh mẽ thì sự bao vây lấy những ý nghĩ trái ngược càng cao và vì thế những phản ứng mạnh mẽ xuất phát từ những ý nghĩ càng được tập trung hơn.

Từ khái niệm về lòng tin này chúng ta có thể nhận thấy trạng thái niềm tin cao độ được hình thành trong sinh viên yếu kém, và nó dễ dàng in sâu trong nhận thức của mỗi sinh viên. Điều này là do khả năng tiếp thu tiêu cực trước đây từng áp đảo bất kỳ một khả năng tiếp thu tích cực nào giờ đây sẽ tự động bị chặn đứng nhờ niềm tin tăng lên đủ dài cho một suy nghĩ mới trở nên vững mạnh.

Một trong những bài thuyết trình đầu tiên về" Quyền năng của tri tuệ" đã từng được sử dụng để tăng niềm tin sức mạnh của các sinh viên chính là" Arms Demonstration ".

Các sinh viên, nói chung, trước tiên được đề nghị duỗi cả 2 tay ra ngay trước mặt, nâng nhẹ nhàng lên ngang tầm mắt, và bảo đảm chắc chắn rằng cả 2 tay đều bắt đầu thực hiện cùng lúc. Sau đó nhắm mắt lại, họ sẽ tưởng tượng một cách sinh động hình ảnh một quả bóng được bơm đầy khí heli đang được kéo bên tay trái và một thùng nặng đầy nước đang được kéo bên cánh tay phải. Sau khoảng 30-60 giây như thế, họ được yêu cầu mở mắt và nhìn xem tay mình đang ở vị trí nào.

Khi sinh viên mở mắt ra và nhìn hai cánh tay (tự động) cách xa nhau bao xa, chúng thật sự ngạc nhiên và tiếng reo hò thích thú vang dội khắp căn phòng. Điều đó chỉ ra cho chúng thấy rằng trên thế giới này không có lí do nào có thể làm cho cánh tay "nặng" đưa lên thấp hơn cánh tay nhẹ trừ một trường hợp đó là họ tập trung suy nghĩ thật nặng lên một cánh tay và suy nghĩ thật nhẹ nhàng lên cánh tay khác, và đó cũng chính là cách đầu óc làm việc.

Bạn có thể nói về sức mạnh của trí tuệ hay chính là sức mạnh của suy nghĩ tích cực cho đến khi trước mắt bạn hiện ra màu xanh và thậm chí không còn có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều người ( đặc biệt là đối với những người suy nghĩ tiêu cực và hay có khuynh hướng thất bại). Tuy nhiên với một bài thuyết trình đơn giản như thế này thì sự hiểu biết sẽ dễ dàng hơn. Ngay từ bây giờ mỗi người có thể bắt đầu thực sự tin tưởng vào sức mạnh của suy nghĩ, sức mạnh của trí tuệ.

Hai phương pháp tiếp theo của chương trình" Sự kỳ diệu của trí tuệ" sẽ được giới thiệu đó là: phương pháp Sự Kỳ Diệu của Qủa Lắc và phương pháp Sự Tập Trung của Đường Soắn ốc, để góp phần tập trung làm tăng thêm niềm tin. Trong phương pháp Sự Kỳ Diệu của Qủa Lắc các sinh viên thực sự kinh ngạc khi nhìn thấy quả lắc, lúc đầu chúng đang giữ yên ( một cái ghi treo trên một sợi dây) sau đó bắt đầu đu đưa một cách tự động theo bất kỳ sự chỉ dẫn nào mà ý nghĩ hướng dẫn nó.Chúng cho rằng nếu trí tuệ đủ sức mạnh để điều khiển con lắc di chuyển một cách tự động như thế, thì giờ đây chúng biết chúng có thể điều khiển trí tuệ của chúng làm như thế với bất cứ thứ gì. ( Nó giải thích cho sinh viên biết rằng sự chuyển động này gắn liền với sự chuyển động vô thức của tay họ khi phản ứng lại với ý nghĩ hay sự trông đợi sự chuyển động xảy ra và sự đu đưa càng diễn ra nhiều thì sự tập trung của trí tuệ càng trở nên mạnh mẽ). Và nếu điều đó không đủ để thuyết phục sinh viên về sức mạnh của trí tuệ của họ, thì các tác động trực quan lôi cuốn có từ việc tăng sự tập trung dựa trên phương pháp Tập trung của Đường Xoắn ốc sẽ làm điều đó ( đề cập đến sự phổ biến nhất của chương trình SPC trong tầng lớp sinh viên ).

Ngày nay những sinh viên này sẵn sàng làm bất cứ điều gì để có thể giúp họ củng cố khả năng tiếp thu tích cực mà đã khắc sâu trong tâm trí họ. Do đó họ sẽ dễ dàng lĩnh hội hơn đối với những phần tiếp theo của chương trình- từ lý thuyết đến thực hành.

DẠY HỌC HIỆU QUẢ
Để đảm bảo chắc chắn rằng sinh viên sẽ nắm được khả năng tiếp thu tích cực mới thì cách thức phản hồi trực tiếp phải được sử dụng để giới thiệu quá trình từ học lý thuyết đến vận dụng các phương pháp.

Một trong những điều đầu tiên phải làm khi giới thiệu những kỹ thuật này cho các sinh viên yếu là phải thông qua các điều sau:

  1. Các sinh viên nhóm "A" hay các " thiên tài" sẽ không theo cách này bởi vì họ sinh ra đã rất thông minh, tuy nhiên họ đã học những phương pháp phát huy hết khả năng thiên tài của họ; và
  2. Nếu các sinh viên cùng sử dụng những phương pháp này thì họ cũng có thể là "thiên tài". Sau đó để vượt qua giới hạn của những phương pháp và có thể dễ dàng học tập, các sinh viên được chỉ cho một phương pháp ghi nhớ đơn giản mà họ được nói rằng phương pháp này sẽ cho phép họ ghi nhớ một lượng dài không thể tưởng tượng nổi, gồm 23 kí tự số ( 19452001555975414952345), điều mà làm họ phải thừa nhận rằng chỉ có thiên tài mới có thể làm được việc đó.

Sau khi tiến hành kiểm tra một số sinh viên đã áp dụng phương pháp đó, gần 95% sinh viên đã hoàn toàn chấp nhận nó, cùng với sự ngạc nhiên và hài lòng. Theo đó, tính hiệu quả là rất cao -nếu họ biết những phương pháp đúng, có những điều mà mới đầu tưởng như không thể thực hiện, có những thứ chỉ thiên tài mới có thể làm được, thì giờ đây thật đơn giản. Nó được nhấn mạnh cho sinh viên biết rằng việc học các phương pháp để ghi nhớ một dãy dài các chữ số không phải là điều quan trọng ở đây. Mà điều quan trọng chính là bây giờ họ nhận biết được rằng nếu họ biết các con đường tắt đúng họ cũng có thể trở thành các thiên tài. Bây giờ lòng ham muốn của họ được kích thích và thêm vào đó là các con đường tắt thiết thực hơn, các con đuờng phát triển trí tuệ khác được lần lượt chỉ ra cho họ. 

Việc học các phương pháp học tập của sinh viên bao hàm rất nhiều phương pháp ghi nhớ, xây dựng từ mới, làm bài kiểm tra, giải quyết các vấn đề, và về tất cả các vấn đề đọc và nghiên cứu các phương pháp nâng cao khả năng học tập. Trong mỗi một lĩnh vực, thì phương pháp phản hồi tức thì lại được đưa ra. Ví dụ như, phương pháp SQ3R ( gồm đọc lướt, câu hỏi, đọc, học thuộc lòng, và ôn tập) dành cho nâng cao khả năng đọc và nghiên cứu được giới thiệu, sinh viên được đưa cho một quyển luận văn SQ3R ngay trong lớp và phải thực hiện ngay lập tức cuộc vấn đáp sử dụng các câu hỏi tương tự như các câu hỏi trong quyển luận văn SQ3R. Và lần lượt tiếp theo sinh viên tiếp tục tham gia một loạt các bài khoá luận ở nhà và các bài kiểm tra vấn đáp của SQ3R.

Dạy cách kiểm soát Stress
Trong tài liệu hiện nay có nhấn mạnh một thông điệp vào sự tồn tại cần thiết phát triển các chương trình nhằm nâng cao khả năng sinh viên đối phó với stress. Khả năng tự chủ thấp, lòng tự trọng thấp, học yếu, hành vi bạo lực, lạm dụng chất kích thích và cơ thể ốm yếu đều là một số các nhân tố( cũng như là các nguyên nhân) gây ra chứng stress cho sinh viên( Chandler, 1985; Omizo & Suzuki, 1988; Sega, 1983; Henderson, Kelby & Engebretson 1992). Vì vậy, nếu chúng ta muốn có một phương pháp toàn diện có thể giải quyết một cách hiệu quả tình trạng bỏ học, thì chúng ta đồng thời phải có một phương pháp kiểm soát stress thật sự hiệu quả. 

Chương trình MOM giúp sinh viên không chỉ giảm được stress mà còn có thể kiểm soát được nó bằng nhiều cách. Trước hết, giảm stress bằng cách áp dụng phương pháp này để tăng khả năng tự chủ và nâng cao lòng tự trọng của bản thân. Để cảm thấy chắc chắn hơn và có khả năng kiẻm soát nỗi lo âu được tốt hơn thì trước hết phải đặt mình trong các tìn huống đó, nơi mà các khả năng của bản thân được trải nghiệm hay tự đặt ra câu hỏi. Tiếp theo, các sinh viên được dạy một loạt các quan điểm tích cực nhằm giúp họ có sức mạnh để vượt qua: học cách nhìn ra cái tốt đẹp trong những tình huống xấu; học cách nhìn ra những điều tốt đẹp ở người khác; bạn sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi thể hiện những điểm tốt ra bên ngoài; nếu bạn mắc lỗi hay nhìn thấy người khác mắc lỗi bạn nên rút ra kinh nghiệm từ đó và học cách quên nó đi; học cách nhìn thấy những điểm tích cực, điểm tốt trong con người mình. Đó là một số quan điểm nhằm giúp những người hay bị stress trong cuộc sống có thể đối phó với tình trạng stress này.

Cuối cùng, hãy sử dụng một thiết bị phản hồi sinh học đơn giản và giá thành cũng rất rẻ được gọi là thẻ Phản Hồi Sinh Học Kiểm Soát Stress (Barrios, 1985b). Thiết bị này giúp tác động và sinh ra phản ứng thư giãn tự động bất cứ khi nào bị stress- một thiết bị an toàn ngay khi nó liên quan tới trường học- ( thi cử, nói trước lớp, đang học...) hay thậm chí trong cuộc sống. Nó như là một công cụ dạy sinh viên cách thư giãn một cách hoàn hảo , và cho sinh viên thấy họ có thể làm biến đổi màu trên tấm thẻ ( công cụ chỉ thị mức độ stress) bất kể khi nào họ bị stress bằng cách áp dụng một trong các cách thư giãn nhanh được ghi ở phía sau tấm thẻ. Thêm vào ngoài việc giúp sinh viên học cách thư giãn, chiếc thẻ còn giúp họ kiểm soát được tình cảm và khả năng tự chủ của bản thân- khi họ nhận ra họ có thể thay đổi mầu sắc trên tấm thẻ bằng chính sức mạnh bên trong của cơ thể.

Làm giảm Stress và tăng khả năng tự chủ trong giáo viên
Rõ ràng rằng một trong những vai trò quan trọng trong quá trình dạy phương pháp MOM đó chính là những người hướng dẫn cũng đạt được những lợi ích thông qua nhiều cách, đặc biệt trong lĩnh vực làm giảm stress cũng như tăng khả năng tự chủ của bản thân.

Nó xảy ra một cách trực tiếp và gián tiếp thông qua kết quả của phương pháp. Một cách trực tiếp, bởi vì nó là một trong những điều cần thiết của quá trình dạy chương trình MOM, những người hướng dẫn được khuyến khích tham gia các phần đa dạng của chương trình để đạt được khả năng tự kiểm soát cuộc sống của mình một cách tốt hơn, đặc biệt là kiểm soát được hiệu quả giảng dạy và các mức độ stress của cơ thể. Còn theo một cách gián tiếp, là vì sinh viên của họ càng giảm stress và thành công bao nhiêu thi bản thân người giáo viên cũng bắt đầu cảm nhận giảm stress và thành công bấy nhiêu.

Và dĩ nhiên những thay đổi tích cực này ở các giáo viên có thể giúp họ có ảnh hưởng hơn đối với sinh viên của họ. Điều này giúp cả về mặt tăng niềm tin của họ đối với chương trình cũng như giúp họ hiệu quả hơn trong quá trình giảng dạy.

Những đoạn trích dưới đây được trích từ Báo Cáo Tóm Tắt Quá Trình Giảng Dạy của một trong những hướng dẫn viên giảng dạy lớp học SPC cho các giáo viên tại trường Đại Học Liên Bang Cal Los Angeles, trong đó sẽ đưa ra một số ý kiến về lợi ích của chương trình SPC đối với các giáo viên:

Tôi muốn nhân cơ hội này để nói thật nhều về những gì tôi cảm nhận đuợc từ chương trình của các bạn và nó đã giúp tôi thật là nhiều. Bài tóm tắt báo cáo của tôi không bắt đầu bằng việc đánh giá sự thay đổi. Kể từ khi những gì tham gia chương trình, tôi bắt đầu giảm được căng thẳng, đó là thành công chính của tôi... Từ kết quả giảm được căng thẳng( tôi đã từng cảm thấy rất căng thẳng mỗi khi ở trường, khi mà bọn trẻ không học hay không tuân theo các quy tắc), tôi nhận thấy tôi trở nên có nhiều việc để làm hơn ở trường, phải báo cáo, ghi sổ sách đúng giờ, và tôi nhận thấy kỹ năng giảng dạy của tôi được nâng lên. Quan điểm thoải mái hơn của tôi có được cũng là do ảnh hưởng từ bọn trẻ, ở đó chúng dường như rất thoải mái và đoàn kết. Tôi nhận thấy mọi thứ không còn làm tôi điên tiết nhiều nữa ( ví dụ như Jack hát bài "Old MacDonald" ở phía sau phòng học và việc đi học muộn của bọn trẻ, không ghi bài, không làm bài tập về nhà,...). Tôi cũng cảm thấy bớt căng thẳng hơn với các bạn đồng niên...Một cách thành thật mà nói giờ đây tôi là một con người thoải mái, thậm chí tôi hi vọng mình sẽ còn hơn thế nữa. Còn nhiều sự thay đổi nhỏ mà tôi muốn nói tới trong tính cách và trong quan điểm của tôi và tất cả đều tích cực. Cho đến bây giờ tôi vẫn tập chương trình SPC hằng ngày và tôi sẽ còn tiếp tục. Một sự chỉ dẫn rất tích cực mà tôi có được đó là tôi đã có thể kiểm soát được tình trạng căng thẳng mà không cần thiết phải uống thuốc Valium nữa. Loại thuốc đó chính là lí do khiến tôi bị ốm khi tôi bị căng thẳng và tôi đã từng thường xuyên sử dụng loại thuốc này ít nhất 10 mg mỗi ngày ( Barios, 1985a, P33).

Đây không đơn thuần chỉ là một phản ứng riêng biệt mà nó được đúc rút thông qua một loạt các kết quả của cả một khoá học chương trình SPC:

Có lẽ biểu hiện rõ nhất của những lợi ích cá nhân của chương trình SPC đối với những người hướng dẫn đó chính là sự thay đổi trong bài thi Willoughby có được từ khoá học hướng dẫn. Bản câu hỏi cá nhân Willoughby ( nhìn phụ lục A) được thiết kế một cách độc đáo như là thước đo tình trạng lo âu và đồng thời còn là một sự chỉ dẫn tuyệt vời cho sự tự tin và khả năng của bản thân để giải quyết vấn đề stress và thành công trong cuộc sống (Wolpe, 1958). Điểm số trong bài thi này càng thấp thì trạng thái tinh thần càng khoẻ mạnh... Trong khoá học đầu tiên- trong bốn buổi học tại trường Cao Đẳng Bang Golden- các điểm trung bình của Willoughby từ mức 62 xuống mức 32 phần trăm trong khoảng thời gian là bốn tuần. Sự cải thiện này còn được nâng lên đối với lớp học cuối cùng của các giáo viên tại trường Đại Học Bang Cal, ở đó, các điểm số trung bình của Willoughby là từ mức 77 đổ xuống mức 40 phần trăm trong lớp học sáu tuần.( Barrios, 1985a, P.33).

Những kết quả đạt được không sát thực với học sinh
Những kết quả đầu tiên thu nhận được sau khi áp dụng chương trình MOM được mô tả như một sự kiện lạ do Dean một trong những sinh viên của trường Cao Đẳng Cộng Đồng Phía Bắc Los Angeles (ELAC) - nơi áp dụng chương trình lần đầu tiên và nó được bắt đầu như một phần của chương III của chương trình nhằm giúp đỡ các sinh viên thiệt thòi gốc Mĩ Mexico(Barrios, 1972).

Trong bài nghiên cứu này, đã áp dụng với 194 sinh viên nghèo trong buổi thực tập ở nhà trường và các sinh viên này phải cần đến chín tuần để học lớp học các kỹ năng. Các sinh viên được phân chia thành hai nhóm một cách ngẫu nhiên. Một nhóm, gồm 105 sinh viên, được đưa vào một lớp học đang dạy chương trình MOM. Một nhóm khác, gồm tất cả 89 sinh viên, được đưa vào 5 lớp học khác nhau có các giáo viên thông thường. Các bài phân tích khác nhau được đưa ra không có sự khác nhau đặc biệt nào giữa hai nhóm khi đem so sánh các thang điểm trong kỳ học đầu tiên.( Điểm cuối kỳ = điểm trung bình nhân với số học trình). Và cho ra những kết quả dưới đây:

    1. Sau một năm rưỡi, điểm trung bình cuối kỳ có xu hướng tăng lên đối với lớp học MOM trong khi đó lại có xu hướng giảm đối với các nhóm chỉ học kỹ năng ( kiểm soát). ( Điểm cuối kỳ của các lớp học dưới đây được đem so sánh với điểm cuối kỳ kỳ trước của lớp học). Một loạt các phân tích cho thấy có một sự khác nhau hoàn toàn của điểm cuối kỳ và nó đựợc thể hiện rõ ở hai mức độ ( F= 6.50). Như chúng ta đã biết, điểm cuối kỳ đã không hề được sử dụng cho các kỳ học nhưng nó đã được sử dụng trong các lớp học kỹ năng.Việc này được thực hiện nhằm làm giảm những ảnh hưởng xấu tới kết quả học tập, mà những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với lớp học dành cho sinh viên ở đó họ tự học tập các kỹ năng. Đồng thời, các sinh viên ở cả hai lớp học đều tham gia các lớp học so sánh và các kỳ học tiếp theo đến mức không còn ảnh hưởng xấu nào đến kết quả học tập, dẫn đến kết quả là có hai lớp học đi theo hai hướng khác nhau một cách hoàn toàn.
    2. Tỉ lệ sinh viên bỏ học trung bình là 16% đối với lớp học áp dụng chương trình MOM, ngược lại là 56% đối với lớp học kiểm soát. ( Ví dụ như 84% của lớp học MOM đã rời bỏ ELAC để đến với lớp học khác hoặc chuyển sang trường cao đẳng hệ 4 năm đem so sánh với 44% sinh viên của những lớp học kiểm soát). 

Chú ý rằng bằng cách nào đó quá trình làm giảm 5.45 điểm cuối kỳ và 56% tỉ lệ sinh viên bỏ học đối với các lớp học kỹ năng thông thường chứng thực kết luận của Losak's (1972) về sự không hiệu quả của hầu hết các chương trình điều trị. 

Và có thêm một điều thú vị nữa đó là một tỉ lệ khá cao các sinh viên của chương trình MOM đã vượt qua được những thói quen lạm dụng các chất kích thích - một vai trò quan trọng của lớp học MOM. Các kết quả của các câu hỏi nặc danh được đưa tới các sinh viên của MOM vào ngày cuối cùng của buổi học đã được đưa ra cho các sinh viên này, và chỉ ra các mức độ giới hạn trong các vùng dưới đây, các tỉ lệ đã được cắt giảm như sau: 

Thức ăn
78%
100 of 129
Thuốc lá
73%
52 of 71
Ti vi
86%
120 of 140
Rượu
92%
59 of 64
Cần xa
72%
31 of 43
Các chất kích thích khác
83%
16 of 19

Không có sự công kích tập trung nào được tạo nên trên các giới hạn. Điều đó hầu như đã xảy ra do ba nguyên nhân chính xuất phát từ chương trình: sự phát triển không giới hạn trong khả năng thư giãn của con người; sự thích thú hơn trong cuộc sống đối với các lĩnh vực khác nhau ( có được từ sự tự tin hơn vào bản thân); và sự ý nghĩa hơn của việc tự kiểm soát stress. Hầu hết mọi giới hạn có thể phải thường xuyên đối mặt với vấn đề tài chính ở một hoặc nhiều lĩnh vực này.

Bằng chứng cho những kết quả này là dữ liệu có từ các lớp học MOM tại UCLA dành cho 372 sinh viên thiệt thòi ( chủ yếu là người người Mĩ gốc Châu Phi và người Mĩ gốc Mexico). Đối với những sinh viên này, điểm số trung bình Willoughby - phản ánh bản thân một cách chính xác- sự tự tin (Wolpe, 1958) - đã được cải thiện từ mức 63 xuống mức 25 phần trăm và điểm tổng kết thói quen học tập trung bình ( Wrenn & Larsen, 1955) tăng từ 11.92 lên 73.42, trong đó có 15 là qua điểm số trung bình trong nhóm mẫu của những sinh viên mới của trường cao đẳng ( Barrios, 1985a).

Mặc dù phương pháp MOM lần đầu tiên được giới thiệu tại trường cao đẳng cộng đồng và trường đại học, nhưng nó đã đạt được những kết quả khích lệ khá cao (Barrios, 1985a) ở các cấp độ trường học, từ nhà trẻ đến trường phổ thông trung học cũng như ở tất cả mọi người khi áp dụng chương trình này, chẳng hạn như Head Start, Win và CETA. ( Đối với các cấp độ thấp hơn, ví dụ như K-3, chỉ một số phần của chương trình được sử dụng). Trên thực tế chương trình này đã được dạy một cách hiệu quả bởi những người khác, chẳng hạn như, các kết qủa của chương trình dành cho sinh viên trung học và các bậc cha mẹ Head Start đã được đưa ra trong báo cáo đệ trình lên Bộ y tế và Bộ Giáo dục của Mĩ và các bộ đã cấp bản quyền tác giả ( Mireles, 1971):

Các kết quả này đã động viên khích lệ cao. Ví dụ như, tại trường trung học Garfield, đặc biệt, Ông Welsh, đã rất ấn tượng trước những phản ứng của sinh viên của mình, quan điểm của họ đã chuyển từ tiêu cực sang tích cực, và ông còn đề nghị chương trình USTED hãy hướng dẫn các lớp học càng sớm càng tốt cho các thầy giáo, sinh viên và đơn vị mật vụ và cả cho các nhóm nhà tư vấn cho các bậc cha mẹ...Lớp học tâm lý 22 (SPC) đã được giới thiệu trong phần chính cho chương trình những người mẹ ABC Head-start đã trình bày một loạt các phản ứng từ các bậc cha mẹ, trong đó có nói rằng nếu họ tham gia vào chương trình này 20 năm trước thì học sẽ không phải sống một cuộc sống mà lòng tự trọng lại thấp như thế. Họ yêu cầu con cái của họ phải dành nhiều thời gian cho chương trình này để không phải lặp lại những sai lầm như họ. Họ đề nghị chúng tôi xây dựng những khoá học tương tự như thế tại các trường tiểu học, nơi đó bọn trẻ rất quan tâm đến tiến sĩ Barrios, nhưng lại không hề có một lớp học nào như thế, do đó theo như chỉ dẫn rằng nó là một khoá học và có nội dung của nó, hơn thế nữa còn có một món quà đặc biệt của mỗi giáo viên hướng dẫn, những người chịu trách nhiệm trước những kết quả của khoá học. Chúng tôi cảm nhận: Đây là một sự đột phá tuyệt vời! (P.31).

Dưới đây là một trong những lời bình luận của sinh viên trung học được nêu ra trong bài nghiên cứu:

Tình cảm của tôi đối với lớp học này được nâng lên rất nhiều. Đầu tiên, tôi nghĩ nó cũng chỉ như những lớp học khác, như gõ đầu trẻ và làm trò hề của giáo viên mà thôi. Nói cách khác, là một lớp học buồn tẻ, cổ hủ và không thể chịu nổi. Nhưng không phải vậy! không lâu sau tôi trở nên rất thích thú và những điều này, về phía tôi, chúng thật tuyệt vời.

Tôi đã cải thiện được hình ảnh của mình, ở lớp tôi tham gia một cách năng động hơn, tôi không còn sợ phải phát biểu trước lớp. Nhanh chóng, chuơng trình đã đem đến cho tôi cái nhìn tích cực đối với cuộc sống. Trái ngược hẳn với trước đây, lúc đó tôi hay bi quan, bẳn tính và hay la lối om sòm. Gần đây, tôi nhận thấy cái nhìn của tôi đối với cuộc sống tốt đẹp hơn nhiều... Tôi chỉ ao ước có thật nhiều lớp học như thế này, với nhiều giáo viên như ngài Paez... Quả là một lớp học tuyệt hảo, tôi không thể nào diễn tả được hết niềm vui suớng và lòng biết ơn của mình. Tất cả những gì tôi mong lúc này là chính phủ liên bang nên cho phép tiếp tục và xoá bỏ những rào cản xung quanh - vì không có lớp học nào tốt hơn lớp học như tôi biết ở trường trung học(P.32).

Những kế hoạch đang tiếp tục tiến hành để bổ xung thêm vào những bằng chứng kinh điển với các bài nghiên cứu trong tầm kiểm soát rộng lớn để kiểm tra tính hiệu quả của chương trình MOM tại trường tiểu học thông qua cấp độ trường phổ thông. Chúng tôi mong rằng những kết quả của những bài nghiên cứu này sẽ lại nhận được tương tự như thế ở cấp độ trường cao đẳng cộng đồng.

 
    Copyright © 2006 - Fortune Joint Stock Company - All rights reserved.
Powered by HI-TEK.com