Khoa học hỗ trợ tôn giáo:
Từ góc nh́n của một nhà khoa học về hành vi.
Tóm
tắt:
Tài liệu này cố gắng nối liền khoảng cách giữa khoa học và tôn giáo, từ góc nh́n của một nhà khoa học về hành vi theo nguyên tắc logic, có sự điều khiển của lư trí con người và có thể thẩm tra được nhằm hỗ trợ cho những hiện tượng tôn giáo phi thường ; cung cấp những câu trả lời tự nhiên cho những câu hỏi mà từ trước đến nay đă đều dựa phần lớn vào những lời giải nghĩa "siêu nhiên". Những hiện tượng tôn giáo được coi là rất đỗi thông thường ( đối lập với "siêu nhiên" ) đă bao phủ những hiện tượng bao gồm chữa bệnh bằng đức tin, sức mạnh của ḷng tin, cầu nguyện để mong thay đổi cuộc sống, các câu thần chú, lời phù phép và biến đổi luân hồi được đưa ra nhờ " những kinh nghiệm tôn giáo". Một vài câu hỏi đă được trả lời như: Có Đức Chúa thật không? Có thiên đường và địa ngục không? Đức Chúa Giêsu ( Đức Phật, Thánh Ala ...) có phải là Chúa không? Tôn giáo là ǵ? Có tự do ư chí không? Điều ǵ là nền tảng cho chủ nghĩa vị tha? Mục đích của cuộc sống là ǵ? Có cuộc sống bất diệt không? Hai trong số các mục tiêu chính của bài viết này là: (1) giúp cho những người theo thuyết vô thần và thuyết bất khả tri thấy được tôn giáo trong một cách nh́n mới, điều mà sẽ cho phép họ có một cách hiểu rơ ràng hơn về những lợi ích tiềm tàng của tôn giáo; và (2), nó giúp cho tôn giáo cải tiến những phương pháp giúp đỡ nhiều người hơn của ḿnh.
Khoa học hỗ trợ tôn giáo: Từ góc nh́n của một nhà khoa học về hành vi.
Bài viết của Tiến sĩ Alfred A. Barrios
Có rất nhiều người tin rằng khoa học và tôn giáo là đối chọi nhau, loại trừ nhau; cái này mâu thuẫn với cái kia. Bài viết này được đưa ra không chỉ là để cho thấy rằng mối quan hệ này không thực sự cần thiết phải như vậy, trên thực tế, khoa học có thể thực sự được dùng để hỗ trợ cho rất nhiều niềm tin tôn giáo và những hiện tượng siêu nhiên mà trước đây thường bị người đời nhạo báng. Theo một kết quả nghiên cứu, người ta không chỉ hi vọng rằng những người theo thuyết vô thần truyền thống và những người theo thuyết bất khả tri ngày nay sẽ có thể nhận được những lợi ích từ tôn giáo và chính tôn giáo cũng sẽ tự học hỏi thêm từ họ để giúp ḿnh trở nên có hiệu quả hơn
Tôi cảm thấy rằng lư do chính của mối bất hoà giữa khoa học và tôn giáo là tôn giáo trước đây đă tin tưởng quá nhiều vào các giải thích mang tính siêu nhiên ( nằm ngoài các quy luật tự nhiên ) cho các hiện tượng kỳ lạ của ḿnh. Tuy nhiên đó là một luận điểm của bài viết này mà nó không c̣n cần thiết nữa v́ hiện nay ngày càng có nhiều hơn những hỗ trợ từ khoa học và logic học để giải thích cho những điều siêu nhiên này do đó chúng ta không c̣n cần tin vào những lời giải thích đó nữa và chúng ta cũng không cần phải đơn giản chấp nhận những điều mà chúng ta tin tưởng. Vâng, những hiện tượng siêu nhiên này có thể được cân nhắc như những điều thông thường hoặc chỉ vượt qua những hiện tượng thông thường trong ư thức rằng chúng chắc chắn không phải là những sự việc hằng ngày, tuy nhiên không phải là các sự việc hằng ngày không có nghĩa là chúng phải được coi là những hiện tượng siêu nhiên. Để hỗ trợ cho luận điểm này, bài viết sẽ cố gắng sử dụng những phương pháp logic, khoa học và dựa trên ư trí con người đối với rất nhiều tư tưởng tôn giáo chủ đạo và từng hiện tượng siêu nhiên một. Điều này sẽ được thực hiện bằng việc trả lời một cách logic và có lư trí cho rất nhiều câu hỏi mà cho đến nay được xem là không thể trả lời theo cách thông thường được. Những câu hỏi này bao gồm :
(1) Có Chúa ở trên đời không? (2) Có thiên đường và địa ngục không? (3) Giesu có phải là Chúa không? (4) Tôn giáo là ǵ? (5) Đâu là ḷng tin và mục đích của tôn giáo là ǵ? (6) Có tự do ư chí không và Một vài tôn giáo là thuyết định mệnh phải không? (7) Tôn giáo có cần thiết hay không? (8) Nền tảng của chủ nghĩa vị tha là ǵ? (9) Mục đích của cuộc sống là ǵ? (10) Liệu có thể có tôn giáo sai lầm và nguy hiểm không? (11) Một vài tôn giáo có thể hiệu quả hơn những tôn giáo khác được không và chúng ta có thể đo lường sự hiệu quả đó bằng cách nào? (12) Có sự tồn tại thực sự của phép chữa bệnh bằng đức tin không? (13) Cầu nguyện là làm như thế nào? (14) Liệu có tồn tại một cuộc sống bất diệt không?
Có chúa trên đời không?
Để bắt đầu, chỉ nên hỏi các câu hỏi khác khi mà câu hỏi "liệu trên đời này có tồn tại chúa trời hay không" được trả lời, nó sẽ hữu ích hơn nếu đầu tiên chúng ta đưa ra định nghĩa cho việc chúng ta coi Chúa là ǵ. Tôi cảm nhận rằng định nghĩa dưới đây là một định nghĩa được mọi người chấp nhận nhất: Chúa trời có thể được định nghĩa như là một khái niệm được xây dựng trên ba phần chính. Hay nói theo cách khác, Chúa trời là một khái niệm được xây dựng trên tổ hợp của ba khái niệm phụ khác:
Khái niệm phụ thứ nhất là quy luật tự nhiên; Đó chính là có các quy luật tự nhiên xuyên suốt toàn vũ trụ bao la. Mọi người đều biết rằng có các quy luật mà chúng sẽ giúp con người giải thích một cách lư trí, tiên đoán trước được các hiện tượng và cho phép chúng ta sẵn sàng hơn trong việc sử dụng những quy luật này cho những lợi ích của chúng ta. Một trong những lợi ích chính là sự thoải mái trong suy nghĩ, nó được khởi nguồn từ quá tŕnh hiểu biết, mọi sự vật hiện tượng đều có thể được lư giải và được tiên đoán trước do bởi quan niệm của vạn vật đều cân đối hay được sắp xếp theo thứ tự và không hề lộn xộn - một cách làm giảm bớt đi nỗi sợ hăi khi phải nói mà lại không biết nói ǵ.
Lợi ích quan trọng thứ hai đó là tất cả những lợi ích chúng ta thu được xuất phát từ quá tŕnh áp dụng những quy luật này, trái lại nếu chúng ta không tuân theo những nguyên tắc này th́ chúng ta phải gánh chịu những nỗi đau đớn mà nó gây ra. Ví dụ như một học sinh được học làm thế nào để có thể khai thác hết sức mạnh của chất nổ cho lợi ích nhân loại (hơn là sự phá huỷ của nó) - cũng như trong quá tŕnh khai thác người ta đă dùng dầu lửa để vận hành phương tiện hay dùng chất dynamite để "phá núi". Một ví dụ khác, hậu quả của việc không tuân theo nguyên tắc của vạn vật hấp dẫn là nhảy xuống từ toà nhà cao tầng. Điều này cũng được sử dụng để hỗ trợ cho những luận điểm của tôn giáo chẳng hạn như " giá phải trả của tội lỗi là cái chết". Ví dụ như, chúng ta biết rằng uống rượu quá nhiều, ăn quá nhiều ( hay phàm ăn), hút thuốc quá nhiều, lạm dụng ma tuư, hay cẩu thả trong lối sống có thể dẫn tới những vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ ( chẳng hạn sơ gan, bệnh tim, bệnh ung thư hay bệnh AIDS) và cuối cùng là cái chết - tất cả đều là nguyên nhân của việc không tuân theo các nguyên tắc sinh lư học và bệnh lư học.
Điều đó thậm chí hỗ trợ cho luận điểm Chúa trời đă sinh ra vạn vật ( thông qua các nguyên tắc của tự nhiên). Mặc dù hiện nay chúng ta vẫn chưa biết chính xác nghĩa của các quy luật tự nhiên như sự bắt đầu của vạn vật, nhưng điều đó cũng không có nghĩa rằng các quy luật này không tồn tại hay chúng ta cũng sẽ không biết những nguyên tắc này là ǵ.
Khái niệm đầu tiên về chúa trời này được biết đến như là nơi Đấng Toàn Năng hay Đấng Chúa trời sinh ra.
(2) Khái niệm thứ hai về Chúa trời là nếu bạn tuân theo một hướng cụ thể hay sống sống một cuộc sống lư tưởng th́ trong cuộc sống bạn sẽ đạt được trạng thái tâm lư thoải mái nhất, hoàn thiện nhất và hạnh phúc (thiên đàng) nhất và chịu ít khổ đau ( địa ngục) nhất.
Khi chúng ta thật sự đưa cách sống này vào trong thâm tâm ta, chúng ta có nói rằng Chúa trời đang ở trong ta; và khi chúng ta đă có Ngài trong thâm tâm và muốn ngài giúp đỡ, chỉ dẫn, chúng ta sử dụng cách tiếp cận thông thường nhất với ngài là đọc kinh cầu nguyện, cách này đă trở thành thói quen mỗi khi chúng ta cần sự giúp đỡ. Từ đó cho thấy một điều quan trọng là chắc chắn chúa trời luôn luôn ở bên bạn và sẽ giúp bạn một cách trọn vẹn nhất - cụ thể là, khi bạn có thể chắc chắn rằng bạn hiểu hết được những ǵ Chúa trời hướng dẫn. Chỉ đơn thuần cầu nguyện Chúa giúp đỡ hay chỉ dẫn chúng ta mà không hiểu hay không tuân theo một cách đầy đủ những ǵ Chúa trời hướng dẫn th́ những lời cầu nguyện đó sẽ không giúp bạn được nhiều.
Khái niệm thứ hai về chúa trời trùng hợp với một phần của kinh thánh - chương thứ 14, tiết thứ 6 sách Phúc âm của John, trong đó có trích dẫn lời của chúa Giê-su," Tôi đang tồn tại, sự thật và chân lư. Không ai có thể đến với Đấng chúa trời mà không qua tôi".
(3) Khái niệm thứ ba về Chúa trời là thông qua niềm tin mănh liệt đối với Chúa trời, chúng ta có thể kiểm soát tốt hơn vận mệnh của ḿnh. Việc kiểm soát này phải được làm cùng với sức mạnh của Chúa. Điều đó thông qua sức mạnh của ḷng tin, chúng ta có thể cầu xin sức mạnh của chúa trời và ngài sẽ cho phép chúng ta tiếp cận hoàn toàn những lời chỉ dẫn ("...hướng đi...") của ngài. Đối với hầu hết mọi người, điều này thường rất khó thay đổi. Sức mạnh của ḷng tin làm chúng dễ dàng thay đổi hơn. Nền tảng khoa học của yếu tố niềm tin và việc làm thế nào để niềm tin có thể mang lại cho chúng ta ư chí hay sức mạnh để kiểm soát và thay đổi cuộc sống ( nếu cần thiết ) cũng như làm thế nào để có được hạnh phúc nhất và đầy đủ nhất là những lĩnh vực được đề cập dưới đây trong phần nói về niềm tin.
Khái niệm thứ ba về Chúa trời có thể được coi là nằm ngoài sự hỗ trợ cho khía cạnh tuyệt đối mà thường được đổ lỗi cho Chúa trời.
Nếu một khái niệm về Chúa trời được tổng hợp từ ba định nghĩa trên, th́ khi bạn nói bạn tin vào Chúa trời, có nghĩa bạn đang nói rằng bạn tin vào quy luật tự nhiên; rằng có một lư tưởng sống mà có thể giúp con người thoải mái đầu óc nhất và hạnh phúc nhất; và thông qua sức mạnh của niềm tin bạn có thể kiểm soát được vận mệnh của ḿnh tốt hơn. Bạn cho rằng nếu bạn đi ngược lại ư chúa ( ví dụ, nếu bạn đi ngược lại quy luật tự nhiên, th́ đừng cố gắng hướng ḿnh theo một lư tưởng sống, và cũng đừng tin rằng bạn có thể kiểm soát được cuộc sống của bạn), bạn sẽ phải gánh chịu những hậu quả của nó.
Sau khi trả lời câu hỏi về khái niệm chúa trời, nó sẽ giúp bạn trả lời những câu hỏi c̣n hoài nghi: Nếu chúa trời là đức chúa của t́nh yêu bao la, là đức chúa của ḷng nhân từ th́ bạn làm thế nào có thể lí giải hết được tất cả những khổ đau trên thế giới này? Câu trả lời được nói ra một cách đơn giản là thế giới này có nhiều khổ đau đó là do con người đă đi ngược lại với ư Chúa ( như định nghĩa ở trên).
Đức Chúa Cứu Thế Có Phải Là Chúa Trời Không?
Câu trả lời cho câu hỏi này lại phụ thuộc vào việc bạn định nghĩa thế nào về chúa.
Theo như định nghĩa ở trên, chúng ta có thể nói rằng đối với đánh giá Đức Chúa Cứu thế là "...hướng đi..." ( John 14:6), những bài giảng của Ngài là khuôn mẫu cho lối sống của mỗi người, và Đức Chúa Cứu thế là hiện thân hay chính là khuôn mẫu cho những khái nệm về Chúa trời ( khái niệm 2), cuối cùng Chúa Cứu Thế chính là Chúa trời.
Hầu hết những người không theo Cơ Đốc giáo đều đồng ư rằng những bài giảng cơ bản của Chúa trời đều đúng đến từng ư với một loạt triết lư sống nhằm giúp những mong ước đều trở thành hiện thực- dù mong ước đó ở cấp độ cao nhất. Các tư tưởng của Ngài như " Hăy cứ đưa ra yêu cầu đi, bạn sẽ nhận được"; " hăy t́m kiếm và bạn sẽ thấy" và " Hăy tin và tất cả mọi thứ đều có thể" đều là những phương thức mạnh mẽ, thiết thực nhằm giúp con người từ bỏ những hành động tiêu cực và sản sinh những thay đổi tích cực. Và quan tâm đến những điểm tốt ở người khác, nh́n thấy điểm tốt trong chúng ta, nh́n ra điểm tốt trong những t́nh huống xấu, rút ra bài học kinh nghiệm từ những lỗi lầm, thừa nhận lỗi lầm của chúng ta, ... là một phần của việc thiết lập thái độ tích cực hướng vào chính ḿnh, vào người khác và vào cuộc sống nhằm giúp đỡ con người đạt tới trạng thái thoải mái nhất về tinh thần và hạnh phúc. Về vấn đề này các bài giảng đều lư tưởng và cuối cùng có thể kết luận rằng Chúa Cứu Thế chính là Chúa trời.
Rơ ràng, cùng một phương pháp tiếp cận có thể được sử dụng để quyết định nếu Thánh Ala hay Đức Phật ...cũng là Chúa trời hay hiện thân của Đức Chúa. Có một câu hỏi đặt ra là làm thế nào mà một người có thể xác định được phần nào trong những bài giảng đề cập trên đây đạt được gần tới lư tưởng nhất; ví dụ như ai trong những người đó gần gũi với hiện thân của Chúa trời thực sự nhất? Câu hỏi này có thể trả lời một cách tốt nhất theo những gợi ư được đưa ra trong phần dưới đây có tiêu đề " Có thể có những Tôn giáo hiệu qủa hơn các tôn giáo khác không và chúng ta có thể đo lường được điều đó như thế nào?"
Tôn giáo là ǵ và các chức năng chính của tôn giáo là ǵ?
Tôi nhận thấy tôn giáo được xây dựng trên ba yếu tố cơ bản: yếu tố b́nh ổn hay quy luật của vạn vật; yếu tố chỉ dẫn; và yếu tố ḷng tin.Và ba chức năng chính của tôn giáo bao gồm cung cấp: (1) các câu trả lời làm giảm bớt những nỗi sợ hăi của sự không hiểu biết; (2) chỉ dẫn hay chỉ cách làm thế nào để có thể đạt được sự thoải mái nhất về tinh thần và hạnh phúc; và (3) các cách xây dựng ḷng tin.
Đâu là ḷng tin và mục đích của tôn giáo là ǵ?
Tôi sẽ định nghĩa ḷng tin như một trạng thái của ư thức, được thốt ra thành lời, nhờ đó có một sự tập trung vào một ư nghĩ để ngăn chặn bất cứ suy nghĩ hay kích thích cảm giác nào khác mà trái ngược với suy nghĩ ban đầu. Định nghĩa về ḷng tin này cho phép bạn thấy dễ dàng hơn một thực tế ḷng tin về mặt: ḷng tin đó có thể ảnh hưởng đến cách cư xử như thế nào; ḷng tin ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể con ngườinhư thế nào; tại sao và như thế nào mà ảnh hưởng đó lại ghê gớm như thế.
Hai yếu tố chính của ḷng tin đó là: (a) tập trung suy nghĩ thật lâu đồng thời sinh ra những phản ứng liên quan dến ư nghĩ đó; và (b) ngăn chặn bất cứ một sự ảnh hưởng có thể nào đến những phản ứng của suy nghĩ ( cả về nhận thức lẫn giác quan). Một ngựi khoẻ mạnh tin rằng, sức mạnh sẽ ngăn chặn được bất cứ một sự cản trở nào và do đó sức mạnh càng lớn th́ những phản ứng từ suy nghĩ càng vững bấy nhiêu. Hỗ trợ cho luận điểm này có thể xem trong các phần nói về Ḷng tin trong quyển B.F. Skinner’s Verbal Behavior ( 1957, trang 159, 160 & 366) và nói về lời đề nghị trong Phản xạ có điều kiện ( Conditioned Reflexes ) của Pavlov ( 1927, trang 407).
Để kiểm định tính chân thật của ḷng tin, đầu tiên chúng ta phải xác nhận rằng những ư nghĩ luôn đẫn tới các phản ứng một cách tự động. Pavlov có lẽ là người đầu tiên làm sáng tỏ điều này khi ông nói sức mạnh của lời nói và ư nghĩ tới việc sinh ra các phản ứng như là kết quả của các điều kiện trước đó.
" Lời nói của mọi người trong giai đoạn trước khi trưởng thành có liên quan tới những kích thích bên trong hoặc bên ngoài ( thông mối liên hệ hay điều kiện) sau đó được dẫn chuyền tới vỏ năo, được mă hoá và thay thế chúng, do đó, gây ra những phản ứng của các cơ quan do các kích thích bên trong cơ thể tác động lên. ( Pavlov, 1927. trang 407).
Một ví dụ rơ ràng khác về sự ảnh hưởng của lời nói hay ư nghĩ chẳng hạn như có " quả chanh". Nếu một người nào đó đề nghị bạn hăy tưởng tượng là ḿnh đang nếm một quả chanh có vị chua, chát và có mùi thơm, bạn sẽ nhận thấy bạn nhanh chóng bị chảy nước miếng. Bởi v́ lời nói hay ư nghĩ về "quả chanh", thông qua quá tŕnh liên tưởng sẽ dẫn tới phản ứng chảy nước miếng tự nhiên khi cắn quả chanh đă trở thành kích thích có điều kiện. Và bạn càng tin là bạn đang thật sự ăn chanh, bạn càng tập trung vào ư nghĩ đó bao nhiêu th́ bạn càng chảy nước miếng bấy nhiêu. (Xem chương "Belief becomes biology" trong cuốn sách đầu tay của Cousin: The Biology of Hope, 1989).
Yếu tố thứ hai của niềm tin mà cần phải được thẩm định đó chính là ngăn chặn mặt trái ngược. Từ khi ḷng tin được xem như là nằm ngoài phương pháp tập trung suy nghĩ theo hướng dựa trên một suy nghĩ cụ thể, một lĩnh vực mà có thể cung cấp sự hỗ trợ cho việc giải thích cho điều trên là lĩnh vực thần kinh học đó là công việc của những người mở đường như Hernandez- Peon (1959). Lâu sau người ta lại phát hiện ra rằng khi một cơ thể tập trung vào một kích thích ( Ư nghĩ được coi như là những kích thích nhận biết), th́ những kích thích khác đến kích thích đó sẽ bị cản trở. Và càng tập trung sự chú ư nhiều bao nhiêu th́ lại càng cản trở bấy nhiêu. Điều ngược lại hẳn nhiên cũng rất đúng - sự ngăn chặn càng mạnh mẽ bao nhiêu th́ sự tập trung ( và phản ứng) với kích thích đó càng bền bấy nhiêu.
Công việc trong lĩnh vực thôi miên và gợi ư cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ khái niệm về sự ngăn chặn các mặt ảnh hưởng tới ḷng tin. Các khái niệm thôi miên, gợi ư và ḷng tin đều liên quan mật thiết đến nhau.
Gợi ư có thể được định nghĩa như là sử dụng lời nói nhằm gợi lên ḷng tin trong mỗi người. Lindzey (1954,trang 27), người đă tổng kết lại rất nhiều khái niệm về gợi ư, đă phát biểu:
"Trong những định nghĩa này, sự thu hút được xem như là sự hạn chế chuyên quyền trong việc chi phối hành vi... Mở rộng ra, sự gợi ư bắt đầu từ quy luật của sự liên tưởng ( điều kiện), cho đến khi nào chúng ta phải tuân theo như một khuôn mẫu liên tưởng đó, do đó kết cục hành vi con người là do bởi các yếu tố quyết định được chọn lựa".
Tiến sĩ Barrios (2001) đă định nghĩa thôi miên chính là trạng thái cao hơn của khả năng gợi ư (hay ḷng tin) là kết quả của h́nh thái ngăn chặn tăng thêm được h́nh thành trong quá tŕnh thôi miên. Để có một vài ư tưởng về việc ngăn chặn này h́nh thành mạnh mẽ như thế nào, người ta chỉ cần xem những nghiên cứu tổng kết sự hiệu quả của việc sử dụng thôi miên trong phẫu thuật. Nhờ thôi miên làm mất đi cảm giác có thể giúp con người tránh được những tác nhân gây đau đớn, thậm chí cả khi tiến hành phẫu thuật cũng không c̣n cảm thấy đau đớn (Kroger, 1977.trang 212).
Như Ngài Pavlov nói, trong trạng thái của niềm tin cao độ được sinh ra trong quá tŕnh thôi miên, một sự chỉ dẫn "Sự phù hợp với những quy luật thông thường tập trung sự kích thích trong vỏ năo (đó chính là trong điều kiện hạn chế từng phần) trong một số khu vực nhất định, đồng thời tăng sự ức chế của các phần c̣n lại của vỏ năo (bởi những cảm ứng tiêu cực) và đồng thời loại bỏ tất cả những ảnh hưởng xấu của các kích thích đồng thời diễn ra và ưu tiên cho những kích thích ban đầu. Điều này giải thích nguyên nhân gây ra những ảnh hưởng to lớn và thực tế không thể khắc phục được của lời gợi ư như là sự kích thích trong suốt quá tŕnh thôi miên". (Pavlov, 1927 trang 407, phần in nghiêng).
Để đánh giá một cách đầy đủ các phản ứng với kích thích phát ngôn có thể lớn tới mức nào trong trạng thái tin tưởng cao độ như là một kết quả của quá tŕnh ức chế , có lẽ thật có ích khi dùng một hoặc hai phép loại suy:
"Kết quả của quá tŕnh loại trừ những suy nghĩ tiêu cực tương tự như đi vào một cuộc chiến tranh mà ở đó bên kia tấn công một cách bất th́nh ĺnh. Thậm chí người ta miêu tả sức mạnh của nó ( ḷng tin cao độ ) c̣n hơn cả sức mạnh của tia laser. Chúng ta đều biết rằng tia laser mạnh đến thế nào; nó có thể cắt đứt một tấm thép dầy. Nhưng có bao nhiêu người biết rằng tia laser chỉ là một tia sáng b́nh thường mà khi nó được tập trung lại một cách hài hoà nó mới có sức mạnh.
Một tia sáng thông thường phát ra các tia sáng theo tất cả các hướng và khác pha nhau. Nhưng trong tia laser, tất cả các tia được phát ra theo cùng một hướng và cùng một pha. Sự tập trung và không hề xung khắc tạo chính là nhân tố tạo ra sức mạnh ghê gớm của tia laser" (Barios,1985 trang 16-17).
Các nghiên cứu về những phản ứng vô hại ( phản ứng dựa trên sức mạnh của ḷng tin hay hi vọng) đồng thời củng cố thêm sức mạnh cho quá tŕnh ngăn cản. Ví dụ như bài nghiên cứu về phụ nữ của Tiến sĩ Stewart Wolf (1950) những người phải chịu đựng sự buồn nôn kéo dài suốt thời ḱ ốm ngén:
"Những người phụ nữ được đặt vào dạ dày những cái ống khí nhỏ bịt hai đầu, từ đó các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng chính những sự co bóp dạ con dẫn tới những cơn buồn nôn đột ngột của người phụ nữ. Sau đó họ được đưa cho những viên thuốc mà được nói là chúng sẽ giải quyết được vấn đề của họ. Trên thực tế, họ lại được đưa cho nước sirô ipecac - chất gây ra t́nh trạng buồn nôn. Đặc biệt, t́nh trạng buồn nôn và nôn mửa của bệnh nhân đă hết hoàn toàn và các cơn co thắt bụng cũng như bụng khí của họ đă trở lại b́nh thường. Bởi v́ họ tin rằng họ đă được cho thuốc Antinausea, người phụ nữ đă hoàn toàn thay đổi như có sức mạnh của thuốc giúp sức." (Benson 1996,p.32).
Trên thực tế có hai cách mà ḷng tin góp phần trong việc ảnh hưởng đến hành vi. Thêm vào đó để tăng khả năng phản ứng đối với suy nghĩ cụ thể tại bất kỳ thời điểm được đưa ra nào, th́ ḷng tin cũng đóng vai tṛ then chốt để làm đơn giản hơn chương tŕnh (điều kiện) h́nh thành hành vi tích cực, các hành vi đó sẽ tự động diễn ra trong các t́nh huống liên quan trong tương lai. Nó làm đơn giản quá tŕnh h́nh thành lại sự ngăn chặn một sự xâm nhập mới, đồng thời ngăn chặn bất cứ một sự can thiệp nào từ phía những hành vi tiêu cực (Nhờ yếu tố ngăn chặn của ḷng tin). Để thấy rơ điều này hơn xin mời xem trích dẫn của Pavlop (1927 trang407):
" Mệnh lệnh chỉ huy của năo bộ duy tŕ hiệu quả của nó sau khi chấm dứt quá tŕnh thôi miên" [ của trạng thái niềm tin cao độ], giữ nguyên các kích thích độc lập khác, không để những kích thích này có thể lọt ra ngoài, cùng lúc đó trong khi phản ánh ban đầu những kích thích vào vỏ năo th́ nó được giữ lại do quá tŕnh thiết lập các mối liên quan với các phần c̣n lại của vỏ năo " (phần chữ in nghiêng).
Chúng ta biết rằng có thể h́nh thành một hành vi mới thông qua lời nói. Theo quan điểm của tiến sĩ Barrios (2001), những công thức mang tính lư thuyết của Mowrer trong câu này xem như là một điều kiện cần thiết (1960, trang 141,147-150) nhằm củng cố thêm cho các luận điểm. Tuy nhiên, điều luôn lưu giữ chúng ta từ chương tŕnh của hành vi mới là sự hiện diện của hành vi cũ ( chương tŕnh cũ). Để phù hợp với hành vi mới một cách hiệu quả, chúng ta có thể phải loại bỏ những cản trở cũ sao cho đủ để thiết lập điều kiện mới. Do đó chúng ta có thể nhận thấy việc ngăn chặn các yếu tố của ḷng tin đóng vai tṛ then chốt ở đây như thế nào.
Nh́n vào niềm tin trong một nhận thức mới cũng sẽ giúp chúng ta hiểu tốt hơn khái niệm loại trừ ( hay ngăn cản) ma quỷ hay độc ác (quá tŕnh h́nh thành tiêu cực) trong chúng ta và vai tṛ niềm tin sẽ được thể hiện.
Đánh giá theo một cách khác, vai tṛ then chốt của ḷng tin trong việc tác động tới cuộc sống của chúng ta là để mỗi người nhận ra những khó khăn trong việc thay đổi cách sống tiêu cực của ḿnh. Liệu bạn có dám chắc rằng không thường xuyên có những lời khuyên tốt mà bạn nghe ở tai này lại đơn giản đi ra ở tai kia không? Dường như hầu hết mọi người không có ư chí để thay đổi. Nó cũng gần giống như việc mặc dù chúng ta đă học về cách làm thế nào để lập tŕnh và lập tŕnh lại máy tính thông thường, nhưng khi phải lập tŕnh lại máy chủ, trong suy nghĩ của mỗi người - hầu hết đều không biết làm như thế nào cả. Xem xét các cơ chế này mà nhờ lập tŕnh lại ḷng tin để nó trở nên dễ dàng hơn có thể cho chúng ta thấy con đường mà sẽ giúp chúng ta thoát khỏi u mê. (Xem phần tiếp theo ḷng tin đóng vai tṛ then chốt như thế nào trong việc đem tới cho con người ư chí tự do hơn.)
Điều đó đồng thời cũng giúp con người hiểu đầy đủ hơn về những thay đổi sâu rộng mà có thể thường xuyên được sinh ra bởi "sự trải nghiệm của các tôn giáo" (hầu hết là ngay lập tức); mức độ có thể được tái sinh như là kết quả quá tŕnh trải nghiệm của ḷng tin cao độ tuyệt đối.
Bây giờ chúng ta trở lại với câu hỏi mục đích của yếu tố niềm tin trong tôn giáo hay sự tin tưởng. Người ta cảm thấy rằng mục đích của niềm tin ở đây có nghĩa là trao cho chúng ta nhiều quyền kiểm soát hơn đối với vận mệnh của chính ḿnh, trong quá tŕnh vận hành yếu tố hướng dẫn giúp con người có thể ngăn chặn sự can thiệp của bất cứ hành động tiêu cực nào. (Sự tin tưởng có thể được định nghĩa như là ḷng tin "hướng dẫn"). Yếu tố hướng dẫn được chỉ ra ở trên bao gồm tập hợp các ư nghĩ và ḷng tin nhằm mục đích giúp con người đạt được trạng thái tự do nhất của tâm trí, hạnh phúc và hoàn hảo trong cuộc sống. Bạn càng tin vào cách sống này bao nhiêu, bạn tập trung tâm trí vào nó bao nhiêu th́ bạn càng nhận được những suy nghĩ hướng dẫn hoàn hảo hơn bấy nhiêu.
Có sự tự nguyện không và có thuyết tôn giáo định mệnh không?
Sự tự nguyện ngụ ư rằng chúng ta có thể điều khiển được vận mệnh của chúng ta. Câu hỏi liệu có sự tự nguyện hay không đă được các nhà hiền triết vĩ đại đặt ra từ nhiều thế kỷ trước. Tuy nhiên theo như hiểu biết của tôi th́ câu hỏi này sẽ không bao giờ có một câu trả lời đầy đủ được. Rất nhiều tôn giáo cho rằng dĩ nhiên chúng ta có tồn tại sự tự nguyện; Chúa đă cho chúng ta sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, giữa khổ đau và hạnh phúc. Nhưng sau đó những người có đầu óc thực tế lại chỉ ra trường hợp những người đang chịu khổ đau trên khắp thế giới và nói rằng: "chúng tôi có nên tin rằng những người này họ tự nguyện lựa chọn lấy sự khổ đau hay không?" Có sự tự nguyện hay không? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải trở lại định nghĩa đầu tiên của chúng ta một lần nữa.
Như đă tŕnh bày trong cuốn sách "Towards Greater Freedom And Happiness" (Barrios,1985, trang 16) sự tự nguyện được định nghĩa như là khả năng vượt quá mặt tự động của con người theo nghĩa thầm nói hoặc thầm nghĩ, khả năng lựa chọn dựa trên lư luận hơn là các xúc cảm, khả năng thay đổi những thói quen, quan điểm xấu và ḷng tin tiêu cực (quá tŕnh h́nh thành tiêu cực của con người) bằng việc tập trung hiệu quả vào ư nghĩ thích hợp. Những từ khoá ở đây là " bằng việc tập trung hiệu quả vào ư nghĩ thích hợp." Không phải tất cả mọi người đều đă từng phát triển khả năng tập trung một cách hiệu quả vào ư nghĩ thích hợp mỗi khi họ mong muốn. Những suy nghĩ đối lập và xung đột trong suy nghĩ thường xuyên cản trở những phản ứng tích cực một cách đầy đủ.
[Từ định nghĩa về sự tự nguyện này chúng ta có thể nhận thấy câu trả lời cho câu hỏi liệu có tự nguyện hay không là trong tất cả mọi người đều tồn tại sự tiềm tàng của tự nguyện (bởi v́ tất cả con ngựi đều có khả năng để phản ứng lại những lời nói và những suy nghĩ ) nhưng không phải ai cũng có thể phát triển hoàn thiện khả năng này].
Đây là lư do tại sao yếu tố ḷng tin lại đóng vai tṛ quan trọng để giúp cho chương tŕnh yếu tố chỉ dẫn tích cực thêm hiệu quả. Ḷng tin là ch́a khoá cho phép mỗi người phát huy đầy đủ khả năng tự nguyện của ḿnh. Lưu ư rằng, định nghĩa ḷng tin được sử dụng ở đây chính là: sự tập trung vào một ư nghĩ không cho bất cứ một ư nghĩ trái ngược nào có thể xâm nhập. Do đó, chúng ta càng tin chắc điều đó sẽ xảy ra bao nhiêu th́ chúng ta càng tập trung vào một suy nghĩ để loại trừ những tác động của những suy nghĩ trái ngược càng mạnh bấy nhiêu và v́ thế sức mạnh của chúng ta sẽ làm cho điều đó xảy ra - thậm trí cả khi phải đối mặt với những ư nghĩ trái ngược.
Nếu bạn định nghĩa thuyết tiền định là quy luật tự nhiên thay v́ việc cho nó là sự đối lập với sự tự nguyện ( một việc làm sai lầm ) th́ dù cho xung quanh bạn toàn là những con chiên trung thành của thuyết định mệnh th́ bạn cũng không cần phải lo lắng rằng việc tiếp cận với sự tự nguyện này sẽ làm lung lay ḷng tin của bạn .
Điều mà trái ngược với sự tự nguyện th́ đó chính là thuyết định mệnh. Nếu bạn tin rằng cuộc sống của bạn là tiền định hay số mệnh và bạn không thể thay đổi được nó th́ bạn chính là người theo thuyết định mệnh và bạn sẽ không tin vào vào sự tự nguyện. Câu hỏi mà tôi mong trả lời bây giờ chính là các khía cạnh của thuyết tôn giáo định mệnh ?
Một ví dụ đối với tâm lư đó là chúng ta sử dụng những ư nghĩ theo đó như thế nào khi có những chuyện đau buồn xảy ra: " Đó là số phận" hay "chúng ta phải học cách chấp nhận số phận, dù cho t́nh huống đó có tồi tệ đến thế nào, th́ đó chính là số phận đă an bài." Một số người có thể giải thích điều này như là định mệnh nhưng thực chất nó không phải là như thế. Tôi nhận thấy những ǵ mà người ta có thể nói ở đây chính là dù cho t́nh huống xảy ra có tồi tệ đến thế nào, bạn vẫn luôn có thể nhận ra trong cái tồi tệ luôn tồn tại những điều tốt đẹp nếu bạn nghe theo lời dạy của Chúa - Một phần triết lư của cuộc sống đó là " luôn luôn nh́n thấy mặt tốt đẹp".
Điều cốt lơi ở đây là bất cứ tôn giáo nào mà tin vào khái niệm sự tự nguyện th́ đó chính là tôn giáo không định mệnh. Chúng có thể được coi là tiền định trong trường hợp chúng tin vào quy luật chính thống của tự nhiên, đồng thời tin rằng chúng ta có thể điều khiển được phần nào vận mệnh của chúng
ta.
Tôn giáo là cần thiết hay không?
Dựa trên những điều đă đề cập, giờ đây chúng ta có thể trả lời cho câu hỏi liệu tôn giáo là cần thiết hay không. Chúng ta có thể nhận thấy rằng con người rơ ràng có được lợi ích từ (a) quá tŕnh làm giảm đi nỗi sợ hăi do việc không hiểu biết, (b) từ việc có được những chỉ dẫn đúng đắn và (c) các cách thức để tăng yếu tố niềm tin để tiếp thu những chỉ dẫn tích cực vào cuộc sống tốt đẹp hơn, nhờ đó chúng ta có thể đạt được sự thoải mái nhất về tâm lư, đầy đủ nhất và hạnh phúc nhất trong cuộc sống.
Người ta nên làm rơ hơn luận điểm: khi chúng ta nói đến hạnh phúc đạt được, chúng ta không ám chỉ đến sự thoả măn đơn thuần của những mong muốn tức th́ mà không quan tâm tới hậu quả mà nó có thể gây ra cho chính chúng ta và những người khác. Chẳng hạn như, chỉ đơn thuần chơi mà không làm việc không thể giúp chúng ta thoả măn được những mục tiêu dài hạn, và lẽ dĩ nhiên hành động trộm cắp hay giết người để đạt được mục đích của chúng ta rơ ràng có thể gây hại cho người khác.
Hành vi này dĩ nhiên được coi là tiêu cực và trong chúng ta người nào có hành vi như thế được coi là chỉ biết sống v́ ḿnh, người đó bị coi là người độc ác. Đồng thời, hành vi chỉ biết sống v́ ḿnh có thể khiến chúng ta không thể có được sự măn nguyện mỗi khi chúng ta làm được việc ǵ cho người khác, cho anh em chúng ta ( xuất phát từ chủ nghĩa vị
tha).
Nền tảng của Chủ Nghĩa Vị Tha là ǵ?
Dường như điều quan trọng của yếu tố hướng dẫn trong các tôn giáo đó là khái niệm của chủ nghĩa vị tha. "Hăy yêu những người hàng xóm của bạn." "Hăy yêu kẻ thù của bạn", "Hăy làm cho ngựi khác như là bạn đang làm cho chính bạn". Đây là tất cả các ví dụ của khái niệm chủ nghĩa vị tha như là một phần của tôn giáo. Có một câu hỏi được đưa ra là, liệu có một cơ sở ư chí nào cho loại hành vi này hay không?
Tôi nhận thấy rằng nền tảng của chủ nghĩa vị tha (cũng như khái niệm của tính chất hoà hợp) đó chính là sự thật rằng tất cả mọi người (và có lẽ cả trong một số loài vật) đều có khả năng tưởng tượng và v́ thế họ nghĩ rằng họ có khả năng thay thế chính ḿnh bằng một người khác (hay đầu thai kiếp khác). Bởi vậy, khi chúng ta làm việc ǵ đó cho người khác, chúng ta sẽ biết chúng ta có cảm nhận thế nào nếu một người nào đó làm tương tự như thế với ta, và chúng ta có thể cùng nhau chia sẻ bớt nỗi đau, cùng nhau tận hưởng niềm vui và niềm hạnh phúc. Và bạn có thể giúp càng nhiều người, th́ bạn càng có nhiều niềm vui bấy nhiêu. Ngoài ra, từ định nghĩa của chủ nghĩa vị tha chúng ta c̣n nhận ra rằng động lực thúc đẩy chúng ta giúp đỡ người khác không phải để mong nhận được sự đền ơn (chẳng hạn mong kiếm được ǵ đó; hay thậm chí tăng thêm cơ hội cho ḿnh để được lên thiên đàng, ..., và dĩ nhiên nó chỉ là sự giả tạo của bề mặt bên ngoài), v́ thế mà những rung động trực tiếp xuất phát từ đó.
Theo ông S.D.Luzzato, một nhà nghiên cứu luật pháp Do Thái thế kỉ trước, đặc tính của t́nh thương "là nguồn gốc của t́nh yêu, của ḷng tốt và của ḷng ngay thẳng; và những đức tính này khiến chúng ta làm những việc tốt mà không hề có ư trục lợi." (Donin, 1991, trang 43, phần chữ in nghiêng ). Tất cả những điều đó giúp chúng ta hiểu khái niệm của t́nh yêu không điều kiện.
Để thẩm định khái niệm này, hành vi vị tha là quá tŕnh thoả măn một cách trực tiếp, mỗi người có thể dùng các phương pháp tưởng tượng (ví dụ như. Nash, 1997) để đo lượng hóc môn Dopamine ( sự đo lường trực tiếp niềm vui thích) trong lúc diễn ra một hành vi vị tha. Số lượng hóc môn tiết ra có thể được so sánh với mức độ hài ḷng của bản thân.
Mục đích của cuộc sống là ǵ?
Nhiều người nghĩ rằng mục đích của cuộc sống chính là để cung phụng hay để hiến dâng thân ḿnh cho Chúa. Nếu điều đó được định nghĩa là hăy sống theo cách của Chúa, th́ có thể tôi đồng ư, bởi v́ như định nghĩa ở trên, sống theo cách của Chúa th́ sẽ được đầy đủ và hạnh phúc nhất trong cuộc sống.
Điều đó được xuất phát từ những điều Chúa Giê- su đă nói: " Tôi đă đến gặp và biết họ vẫn c̣n sống và thậm chí sống rất khoẻ mạnh" ( Kinh thánh, John 10:10). Và tôi không hề ngạc nhiên nếu nó cũng phù hợp với các tôn giáo khác.
Do đó một người có thể nói rằng mục đích sống đó là sống một cuộc sống mà ở đó bạn sống một cách hoàn hảo nhất; và bạn cống hiến hết ḿnh cho Chúa và bạn cũng sẽ có những điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống, nó bao hàm cả những niềm vui khi bạn làm được những điều tốt đẹp cho người khác.
Thật không may, có một số người nghĩ mục đích của cuộc sống chính là sự cống hiến hết ḿnh, luôn nghĩ đến người khác để làm tất cả cho người khác, mà không bao giờ được nghĩ cũng như mong muốn cho bản thân ḿnh. Tuy nhiên tôi lại cho rằng nên tạo ra một sự cân bằng giữa niềm vui được xuất phát từ việc làm những điều tốt đẹp cho người khác với niềm vui xuất phát từ việc thoả măn những nhu cầu cá nhân. (Xem chương hạnh phúc trong cuốn "Towards Greater Freedom and Happiness", Barrios, 1985.)
Đưa ra ư kiến làm cho người khác đến mức cống hiến hết ḿnh, th́ tôi nghĩ, như thế là đi ngược lại với ư Chúa "không nên chỉ biết hưởng thụ cho bản thân mà hăy biết giúp đỡ người khác trong phạm vi mà ḿnh có thể". [ Chẳng hạn nếu bạn cống hiến hết ḿnh, bạn đưa hết thức ăn của bạn cho những người bị đói th́ rơ ràng bạn sẽ tự hại ḿnh. Trong khi làm như thế, rốt cuộc bạn lại đang sắp chết đói hay v́ lúc nào bạn cũng thấy đói cho nên bạn không có sức khoẻ và không thể nghĩ được ǵ, rơ ràng bạn không thể cung cấp cho những người khác trong một thời gian dài. Có một số người nhận thấy rằng nếu như quá sống v́ người khác th́ có thể dẫn tới sự cản trở quá tŕnh hoạt động của hệ thống miễn dịch và gây ra căn bệnh ung thư ( ví dụ xem Temoshok, 1993, pp. 76,77, & 361)]. Mặt khác, nếu bạn cũng dành cho ḿnh một đôi chút thời gian để phát triển hoàn thiện tiềm năng bản thân th́ đến khi các nhu cầu của bản thân đă được thoả măn, bạn sẽ có thể cho người khác nhiều hơn, và có thể san sẻ với họ trong thời gian dài hơn. Bạn càng hạnh phúc và đầy đủ bao nhiêu th́ bạn càng có thể giúp người khác hạnh phúc và đầy đủ bấy nhiêu
Có tôn giáo sai lầm và nguy hiểm không?
Cho tới khi yếu tố chỉ dẫn mất đi khả năng chỉ dẫn, một số tôn giáo ( sai lầm ) có thể thực sự có hại. Những sự sùng bái tôn giáo nguy hiểm hiện tại c̣n có thể được nh́n thấy bằng cách này (ví dụ, sự sùng đạo Jim Jones ở British Guiana hay sự sùng đạo Marshal Applewhite Heavensgate ở San Diego, đă dẫn tới cái chết yểu của rất nhiều tín đồ).
Sự sùng đạo Arian tối cao của Hitler là ví dụ điển h́nh nhất cho mức độ nguy hại mà những người mộ đạo này gây ra. Hệ tư tưởng của Hitler có yếu tố ḷng tin mănh liệt cho phép nó làm điều đó, nhưng nó lại là một chỉ dẫn sai lầm, hệ tư tưởng này cho rằng trường hợp của những người Arian thuộc tầng lớp trên của xă hội, c̣n những người khác thuộc tầng lớp dưới của xă hội, chẳng hạn như người Do Thái, cần phải được khai trừ. Từ đó cho ta thấy rằng yếu tố ḷng tin mạnh mẽ không đơn thuần là một tôn giáo tốt.
Một cách rơ ràng hơn th́ việc giúp đỡ người khác để mở mang sức mạnh của trí tuệ một cách đơn thuần là không đủ. Sự chuyển dịch gần đây của "Thời Đại Mới" đă chủ yếu tập trung vào phát triển sức mạnh của trí tuệ con người - để có được sức khoẻ, sự giàu sang và niềm hạnh phúc - và có nhiều người trong cộng đồng tôn giáo đă nói lên sự sợ hăi của ḿnh bằng cách thức này.Và để có thể hiểu được như vậy, xét một khía cạnh nào đó th́ sức mạnh của trí tuệ không thể là cùng có đủ chỉ dẫn tích cực với điều đó mà đôi khi nó c̣n gây ra những hậu quả tiêu cực.
Có tôn giáo nào hiệu quả hơn các tôn giáo khác không và làm thế nào chúng ta có thể đo lường được điều đó ?
Nếu như mục đích sau cùng của tôn giáo là giúp đỡ con người đạt được trạng thái tâm lư thoải mái hơn và hạnh phúc hơn trong cuộc sống th́ với bất cứ phương tiện nào cũng có thể được sử dụng để đo lường những kết quả này dù trực tiếp hay gián tiếp để xác định tính hiệu quả liên quan của mỗi tôn giáo. Hướng về thước đo trực tiếp cuối cùng, chẳng hạn chúng ta sử dụng những tiêu chuẩn chắc chắn của sự thoải mái về tâm trí hay niềm hạnh phúc, trong các mẫu kiểm tra thăm ḍ và/ hoặc dùng để đo lường sự sự lo âu phiền muộn của cơ thể.
Một cách đo lường gián tiếp chính để biết được sự hiệu quả của tôn giáo đó chính là sức khoẻ và tuổi thọ của mỗi thành viên trong các tôn giáo, từ khi quá tŕnh này được chỉ ra một cách khoa học rằng trạng thái tâm lư và lối sống của con người (mức độ stress, buồn rầu, và các thói quen xấu) là một yếu tố quan trọng đối với sức khoẻ cũng như bệnh tật của cơ thể. (Xem trong quyển sách đầu tay: The Biology of hope của Norman Cousins, 1989).
Một nhân tố khác được coi là một yếu tố quyết định sự hiệu quả của tôn giáo đó chính là phải có nhiều người đạt được lợi ích từ tôn giáo đó. Điều này có thể bị ảnh hưởng rất lớn bởi phương pháp xây dựng nhân tố ḷng tin cũng như phạm vi và chiều sâu của yếu tố chỉ dẫn. Ví dụ như, nếu tôn giáo đặt quá nhiều niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên trong quá tŕnh xây dựng niềm tin, th́ nó sẽ phản tác dụng và cuối cùng sẽ không có ai tin vào yếu tố quy luật tự nhiên của Chúa nữa.
Đồng thời, tôn giáo sẽ càng hiệu quả hơn nếu nó được áp dụng hệ thống khoa học hay các phương pháp lư trí (a) tăng cường nhân tố niềm tin và sử dụng chúng ( ví dụ xem các phương pháp SPC trong chương III của cuốn Towards Greater Freedom and Happiness, Barrios, 1985) cũng như (b) làm sáng tỏ và mở rộng yếu tố chỉ dẫn.
Liệu có tồn tại thực
sự phép chữa bệnh bằng
đức tin không?
Rất nhiều những nghiên cứu trong những năm gần đây đă chỉ ra rằng trạng thái suy nghĩ của một người và phong cách sống chắc chắn đóng một vai tṛ then chốt trong việc xác định t́nh trạng sức khoẻ của anh ta hoặc cô ta. Chúng ta biết rằng stress quá mức ( hay nói chính xác hơn, sự bất lực của ai đó trước việc đương đầu với căng thẳng quá mức ) cuối cùng cũng dẫn tới những bệnh như đột quỵ và bệnh tim do bởi áp lực máu quá cao và sự dư thừa cholesterol trong động mạch. ( nghiên cứu thêm trong cuốn sách " Type A Behavior and Your Heart " của Mayer Friedman, 1974 trang 75-83 và 120-121). Và như đă đề cập ở trên, những thói quen sống xấu như quá lạm dụng rượu bia, thuốc lá, ăn quá nhiều... có thế dấn tới bệnh tật và chết chóc. Chúng ta cũng biết rằng các nhân tố tinh thần tiêu cực ( như là sự tuyệt vọng và bất lực trong việc biểu lộ cảm xúc hay nhu cầu của một ai đó ) có thể gây ngăn cản hệ thống miễn dịch từ đó làm cho người ta dễ mắc những chứng bệnh như là ung thư hơn. Bằng chứng cho điều này có thể dễ dàng t́m thấy trong cuốn sách " The Type C Connection: The Mind Body Link to Cancer and Your Health " của Temoshok 1993 trang 136-138 và 202-209. Cũng có thể thấy trong các nghiên cứu của Glaser & Glaser, et al; Levy & Heberman; và Stein, Schleifer & Keller về hiệu quả ngăn cản trực tiếp của t́nh trạng suy yếu và tuyệt vọng của tinh thần đối với hệ thống miễn dịch như bài viết trong cuốn sách của Norman Cousins có tựa đề: "Head First: the Biology of Hope", 1989 trang 39 và 85. Hai nghiên cứu khác của Glasers cũng đă được đưa ra trong cuốn sách này trang 39 và 40, đă cho thấy việc gia tăng những cảm xúc tích cực có thể giúp tăng hiệu quả miễn dịch của cơ thể lên rất nhiều.
Nếu chúng ta chấp nhận thực tế rằng t́nh trạng suy nghĩ và lối sống của mỗi người có thể đóng một vai tṛ quan trọng trong sự ảnh hưởng tới cơ thể th́ một sự thật hiển nhiên rằng tất cả mọi thứ đều có thể đóng vai tṛ chính trong việc ảnh hưởng tới suy nghĩ như ḷng tin và sự tin tưởng, có thể là nhân tố chính trong việc tác động tới sức khoẻ là làm nó trở nên tốt hơn.
Bằng chứng của sức mạnh ḷng tin tới sức khoẻ của cơ thể có thể được t́m thấy trong rất nhiều nghiên cứu về sức mạnh của lời trấn an ( xem cuốn sách "Timeless Healing: The Power and Biology of Belief",1996 của Herbert Benson và phần nói về trấn an trong cuốn sách "Head First" của Cousin từ trang 229 đến trang 232). Hiệu quả sâu sắc của lời trấn an mang lại cho cơ thể đă được chỉ ra ở trên trong phần nói về niềm tin. Một nghiên cứu cổ điển về việc lời trấn an có thể tác động tới cơ thể như thế nào đă được báo cáo ở Levine năm 1978 - nơi mà người ta mong đợi hay tin tưởng rằng một mũi tiêm sẽ làm dịu đi nỗi đau dẫn đến việc giải phóng endorphins ( chất kháng sinh được sinh ra bởi cơ thể ) vào trong máu. Điều này thậm chí dù cho bệnh nhân không biết đến th́ việc tiêm cũng chỉ là một giải pháp đơn thuần.
Tuy nhiên có một vài thứ cho thấy rằng nhu cầu được tạo ra rất rơ ràng. Mặc dù niềm tin mănh liệt của việc làm lành lại viết thương có thể rất hiệu quả trong việc cải thiện tạm thời t́nh trạng sức khoẻ của mỗi người ( bằng việc cho phép một sự phản ứng của cơ thể chống lại các chất lạ vào người và tạo ra t́nh trạng thoải mái hơn về tinh thần, chí ít là trong thời điểm hiện tại ), để sự cải thiện tạm thời này duy tŕ được lâu, ḷng tin cũng phải được sử dụng để giúp chúng ta tiếp thu đầy đủ sự chỉ đạo, nhờ đó lĩnh vực tâm lư học ngăn chặn có thể không c̣n cần phải tồn tại nữa ( xem Barrios, 1985 trang 124 và 125 ). Do vậy chúng ta có thể thấy sự khác biệt giữa cơ sở ḷng tin và cơ sở của tin tưởng là để chỉ ra rằng sự tin tưởng thường có nghĩa " hướng dẫn" ḷng tin hoặc ḷng tin trong cách chắc chắn của cuộc sống. Khi chúng ta nói niềm tin của một người chữa lành bệnh cho anh ta, chúng ta hàm ư nhiều hơn thế rằng, chính niềm tin anh ta sẽ khỏi bệnh đă giúp anh ta khoẻ mạnh và hồi phục. Đó là ḷng tin của anh ta cộng thêm những thay đổi tích cực lâu dài trong trạng thái suy nghĩ và lối sống của anh ta, tất cả đă được sản sinh ra bởi đường lối chỉ đạo mới cho cuộc sống mà anh ta đă sáp nhập, thông qua sự sáng lập mới hay làm lớn lại sự tin tưởng của anh ta.
Một cách xác định liệu sự tin tưởng hiệu quả hơn bản thân niềm tin bao nhiêu trong việc chữa bệnh tâm lư là phải làm trọn vẹn nghiên cứu của tài liệu về trấn an hoặc phải nghiên cứu sâu hơn về cách trấn an để xác định liệu hiệu quả của nó ( hoặc bản thân ḷng tin ) kéo dài bao lâu nếu không có sự thay đổi trong lối sống.
Tư tưởng nền tảng "chỉ riêng bản thân ḷng tin không thể hiệu quả đối với việc đảm bảo chữa khỏi bệnh vĩnh viễn như khi ḷng tin được sử dụng để mang lại những thay đổi lối sống tích cực " được minh hoạ để giải thích khi trường hợp của Jolee Marshall khác hẳn với các bệnh nhân ung thư khác mà tôi đă làm việc:
Jolee Marshall: Sau cú sốc rất lớn về t́nh cảm, khối u ung thư ruột không thể mổ được của Jolee đă phát triển rất mạnh mẽ và cô chỉ c̣n sống được trong 2 tuần. Tôi làm việc với cô ta trong 4 giờ ( với việc xây dựng ḷng tin bằng thuật thôi miên và kỹ thuật tưởng tượng của việc tiếp cận bản thân chương tŕnh kiểm soát bệnh rối loạn chức năng logic của hệ thần kinh ( SPC-PNI) được đưa ra trong chương nói về bệnh ung thư của cuốn sách " Towards Greater Freedom & Happiness " ( Barrios, 1985) ) và tạo ra trong cô ta một niềm tin rất mănh liệt rằng sự đề kháng tự nhiên của cơ thể cô ta sẽ có thể làm triệt tan khối u. Thực tế khối u đă không c̣n xuất hiện trong sự ngạc nhiên của ông bác sĩ chữa cho cô ta và Jolee đă sống như không bị ung thư hơn một năm nữa. Tuy nhiên một năm sau lần gặp đầu tiên và duy nhất với Jolee, cô ấy lại gặp phải một cú sốc khác về t́nh cảm, rất tiếc bệnh ung thư đă quay trở lại và lần này Jolee đă sớm đầu hàng nó.
Niềm tin mạnh mẽ rằng cô ta sẽ được chữa khỏi dường như có khả năng giúp cho cô chống chọi lại bệnh tật trong một năm. Tuy nhiên trong trường hợp của Jolee, sự tiếp cận hoàn toàn SPC-PNI ( mà cũng bao gồm sự giúp đỡ các bệnh nhân để họ tạo ra một sự thay đổi cần thiết về lối sống ) đă không được theo tới cùng. ( Thật không may tại thời điểm này tôi đă không nhận ra đầy đủ rằng duy chỉ bản thân niềm tin là không đủ). Lí do của điều này là đă không có động lực thật sự cho việc tạo ra sự thay đổi cần thiết trong cách sống của cô ấy mà có thể giúp cho cô ta chống chọi lại bệnh ung thư tốt hơn trong lần thứ hai bị sốc về tâm lư.
Trường hợp tiếp theo này là tương phản với các bệnh nhân ung thư trong những nơi mà việc áp dụng SPC-PNI có chiều sâu hơn. Những bản tóm tắt về sự tiếp cận có hiệu quả với rất nhiều bệnh nhân tạo cho bạn ư tưởng về những tác động được mong đợi khác nhau khi một sự tiếp cận chữa bệnh bằng niềm tin hoàn thiện hơn được đưa ra theo hướng loại trừ các trường hợp góp phần làm trầm trọng thêm bệnh ung thư (như tuyệt vọng...):
Adele Bucanan: Đối lập cuộc gặp với Jolee, Tôi gặp Adele mỗi tuần một lần trong tám tuần . Lần này tôi thấy cô ấy trước, Adele 45 tuổi đang rất đau đớn do bệnh ung thư xương sống, lồng ngực và năo, bệnh bạch huyết tiến triển rất nhanh do di căn từ ung thư vú ( Thời điểm này cách trị liệu mà Adele đang phải trải qua là phải hạn chế sử dụng thuốc, và cô ấy đă có phản ứng rất mạnh mẽ đối chọi lại tiêu chuẩn thuốc thiếu thốn này ).
Qua thời gian làm việc và giúp đỡ Adele, tôi không chỉ có thể xây dựng một niềm tin mănh liệt về khả năng tự chữa bệnh ung thư của cơ thể cô ấy mà thông qua việc làm lớn mạnh ḷng tin này, tôi c̣n có thể mang lại trong cách cô ta sống rất nhiều thay đổi quan trọng. Cụ thể Adele đă có thể tự chủ hơn. Điều này đă cho phép Adele phá tan t́nh trạng tuyệt vọng của cuộc sống, điều mà dường như đă đóng một vai tṛ quan trọng trong việc làm cho cô ta dễ mắc ung thư xương sống hơn. Lúc đó cô ta đă có thể đứng lên để khắc chế và điều khiển được chồng của ḿnh. Sáu tháng sau cả 4 bệnh ung thư của cô ta đă không c̣n thấy xuất hiện và 3 năm sau đó, với lần tiếp xúc cuối cùng, tôi thấy Adele vẫn sống rất tốt.
John Roswick: John đă tham gia điều trị bức xạ căn bệnh ung thư lưỡi. Tuy nhiên anh ta đă khước từ theo đuổi phương pháp mổ để chữa tận gốc căn bệnh của ḿnh. Lúc này anh ta khám phá ra SPC. Lá thư tiếp theo mà anh ta viết cho tôi vào tháng 8 năm 1985 theo yêu cầu của tôi để tóm lược những sự việc đă xảy ra có nội dung như sau:
Tiến sĩ Barrios kính mến
Ngày 5 tháng 8 năm 1985
Gần 6 năm về trước, vào ngày 19 tháng 10 năm 1979 tôi đă được người ta thông báo rằng tôi bị ung thư lưỡi và chỉ c̣n một năm nữa để sống. Tôi đă thật sự tuyệt vọng và tôi đă bắt đầu cầu nguyện mặc dù tôi chẳng biết tí ǵ về Đức Chúa hay Jesus và cũng chẳng bao giờ ngó ngàng tới kinh thánh. Tôi đă trải qua 35 cuộc điều trị bức xạ lớn ở cổ. Tôi đă hỏi bác sĩ rằng liệu tôi có thể được chữa khỏi không? Họ đă nói rằng họ phải mổ cho tôi. Tôi hỏi rằng tôi sẽ phải mổ ǵ? Họ nói họ sẽ phải cắt bỏ một nửa phần cổ của tôi. Trời ạ, làm sao tôi có thể chấp nhận được điều đó và tôi đă nói KHÔNG. Tôi đă gặp ngài vào mùa hè năm 1980 và ngài đă đồng ư tiếp tôi mỗi tuần một lần trong 8 hay 9 tuần ǵ đó. Ngài hướng dẫn tôi kỹ thuật SPC và những lời khuyên khác về ḷng tin và sự tưởng tượng. Tôi đă làm theo và h́nh dung một viễn cảnh tốt nhất cho cuộc sống của ḿnh. Trong cuộc gặp đầu tiên với ngài, ngài đă đưa tôi cuốn sách "Hướng tới một cuộc sống hạnh phúc và thoải mái hơn ". Ngài đă nói rằng bây giờ ngài có 2 cuốn sách ( cuốn sách trên và cuốn Thánh Kinh ) và muốn tôi đọc chúng. Cầu Chúa phù hộ cho ngài và cuốn sách của ngài, ngài đă làm lớn dậy trong tôi niềm tin mănh liệt như những điều mà Chúa Jesus đă nói trong điều 11:23 " Hăy tin đi và tất cả mọi thứ đều là có thể".
Tiến sĩ kính mến, trong thâm tâm tôi, chương tŕnh của ngài đang lấp đấy những khoảng trống trong suy nghĩ của tôi, trong tâm hồn tôi và sau đó là cơ thể tôi. Chương tŕnh SPC của ngài đang bắt đầu chữa bệnh cho tôi, làm lớn mạnh trong tôi những lời răn dạy của Chúa Jesus, giải thoát chính tôi khỏi những dồn nén đáng sợ, đặc biệt là giải thoát những tội lỗi, những nghĩ ngờ, sự tức giận, sự không tha thứ và mang lại sự hoà quyện giữa suy nghĩ, cơ thể và tâm hồn tôi.
Tôi đă cảm nhận thấy tuyến nước bọt, giọng nói và không thể không kể đến là VỊ GIÁC đă quay trở lại với ḿnh trong suốt thời gian gặp gỡ với ngài. ( Tôi quên chưa nhắc là sau lần trị bệnh bằng tia bức xạ, tôi đă mất đi vị giác của ḿnh. Bác sĩ đă nói rằng tuyến nước bọt của tôi không thể nào phục hồi lại như cũ, rằng cảm giác vị chỉ c̣n lại 50% đến 75%. Vậy mà giờ đây tôi đă cảm nhận hoàn toàn về vị giác và tuyến nước bọt như trước khi tôi điều trị bằng tia bức xạ.
Thật đáng buồn khi phải nói rằng các bác sĩ không hoặc sẽ không hướng dẫn cho các bệnh nhân những quy tắc mà đă được đề cập trong cuốn sách của ngài và cuốn Kinh Thánh. Tôi sẽ thúc giục bất cứ người nào bị đau yếu hăy t́m đến chương tŕnh SPC. Khi chương tŕnh này làm việc, nó đặt bạn trong giai điệu thực sự của tâm hồn bạn, con người bạn. Chương tŕnh này đă đem lại cho tôi rất nhiều điều tuyệt vời và tôi biết nó cũng sẽ đem đến những điều tương tự cho những người khác nữa. Tôi tin một điều chắc chắn rằng ngài chính là người phụ tá của Đức Chúa và tôi cảm ơn Chúa v́ đă đem ngài đến với tôi. Tôi không như người đầu tiên mà ngài gặp, đă hoảng sợ, đă bối rối ngượng ngùng, vâng, bối rối ngượng ngùng! Ngài đă chữa lành cho căn bệnh của tôi, cách tiếp cận chính luận của ngài là một phước lành cho mọi người.
Pam Roth: Khi tôi bắt đầu làm việc lần đầu tiên với trường hợp của Pam, cô ta vừa mới được chữa chạy hoá trị liệu và bức xạ cho căn bệnh di căn ung thư vú của ḿnh. Cô ta cũng gặp khó khăn rất lớn trong việc từ bỏ thói quen đă dai dẳng suốt 30 năm qua là hút tới 2 gói thuốc một ngày. Theo lá thư ( mà cô ta đă viết nhân danh tôi khi tôi chính thức được đề nghị trao phần thưởng Norman Cousins về sức khoẻ tâm hồn và cơ thể năm 1996 ) kể về câu chuyện của cô ta:
Gửi những người liên quan: 14 tháng 6 năm 1996
Với tư cách là chủ tịch hội đồng quản trị của 'P.J. Roth & Associates' và tổng giám đốc của cơ quan truyền thông dân sự, tôi đă biết được thanh danh của tiến sĩ Barrios và quan sát cách làm việc của ông ta từ năm 1983.
Thông qua việc tiếp cận SPC, Tiến sĩ Barrios đă phát triển một chương tŕnh mà đă cho phép mọi người trên khắp thế giới có thể liên kết với sức mạnh cá nhân của chính ḿnh để giúp đưa sức khoẻ, sự hạnh phúc và cuộc sống của họ trở nên tốt hơn. Ông đă tạo ra được mối liên hệ giữa cơ thể và tâm trí để có thể sử dụng và hiểu được thế giới.
Tôi đă quan sát sự phát triển phi thường của lư thuyết mở đường trong việc áp dụng chữa bệnh của tiến sĩ và ảnh hưởng vô cùng to lớn của nó trong cộng đồng người Mỹ trong nhiều năm. Cùng thời điểm tôi cảm thấy nó có cũng tác động đôi chút với tôi trên mức độ cá nhân. Đó là cho đến năm 1992 khi tôi được chẩn đoán bị mắc bệnh ung thư vú. Sau đó tiễn sĩ Barrios đă tạo ra được mối liên hệ giữa cơ thể và tâm trí với tôi trong cách sâu thẳm nhất có thể.
Điểm quan trọng trong trường hợp của tôi và tiên lượng bệnh của tôi, tôi đă trải qua cuộc điều trị bằng tia bức xạ và hoá trị liệu gian khổ mà bác sĩ của tôi đă khuyên tôi nên làm.
Vào thời điểm đó, thậm chí khi phải đối mặt với tử thần, tôi cũng không thể nghĩ ra được phương thức để tạo ra những thay đổi cần thiết trong phong cách sống của ḿnh. Trong nhiều trường hợp điều đó không có ǵ đáng ngạc nhiên, nhưng trên hết, tôi đă mất nhiều năm điều trị không thành công vớí mong muốn lấp đầy những thiếu sót của bản thân và có thể nhận thấy do sự thiếu quan tâm đến cả tâm hồn và thể xác của chính ḿnh.
Nhiều năm trị liệu và thậm chí cả căn bệnh ung thư dường như đem lại rất ít sự khác biệt trong việc chấm dứt thói quen hút 2 bao thuốc một ngày đă tồn tại trong suốt 30 năm của tôi. Không một điều ǵ trong các thứ trên có thể tách rời stress ra khỏi công việc của tôi hay nói một cách chính xác rằng tôi đă chưa bao giờ có sự quan tâm và cân nhắc cần thiết đối với cơ thể của ḿnh. Tôi đă gặp vấn đề và tôi biết điều đó. Tôi đă thử mọi thứ bao gồm cả thôi miên nhưng dường như chẳng điều ǵ có hiệu quả cả.
Tôi đă chán nản, lo âu về căn bệnh ung thư mà tôi chắc chắn là vẫn tồn tại trong cơ thể ḿnh, việc chữa trị để làm nó yếu đi và đưa dần ra khỏi cơ thể đă không có hiệu quả. Sau đó, tiến sĩ Barrios đă bước từng bước vào cuộc sống của tôi, mang tất cả những lợi ích của kinh nghiệm trị bệnh lâu năm của ông ấy trong lĩnh vực sức khoẻ tâm sinh đến với tôi.
Trong 2 cuộc gặp, tôi đă tạo ra một bước ngoặt đáng chú ư mà rất nhiều năm chữa trị hay thôi miên trước đây không thể đạt được! Và tất cả đều rất dễ dàng. Việc tiếp cận của tiến sĩ không chỉ giúp tôi khẳng định rằng tôi có sức mạnh để liên kết vào trong tiềm thức của chính ḿnh-nó chỉ cho tôi thấy áp dụng và sử dụng sức mạnh đó để đạt tới sự thay đổi sâu sắc trường hợp của ḿnh như thế nào?
Trong các tuần, nhờ áp dụng kỹ thuật thôi miên và tưởng tượng đầy sức mạnh này với căn bệnh ung thư và sự chia tách cơ thể với tâm hồn, tôi không chỉ giảm việc hút thuốc xuống c̣n một gói mà tiến đến chấm dứt hoàn toàn việc hút thuốc, tôi đă trở thành một người quan tâm chu đáo tới nhu cầu xúc cảm và cơ thể chính ḿnh.
Ngày nay, tôi là một người không c̣n hút thuốc nữa, tôi bắt đầu tập thể dục, ăn uống tốt và quan tâm đến chính ḿnh bằng mọi cách có thể. Tôi cũng theo tất cả các bài kiểm tra và kết quả chỉ ra là " không ung thư " ( vẫn không như hồi tháng 12/2001). Quan trọng hơn, tôi dự định tạo cho ḿnh mọi cơ hội để tiếp tục thực hành kỹ thuật SPC mà đă tạo ra sự khác biệt trong khám phá của tôi.
Nên chỉ ra rằng tôi ( tiến sĩ Barrios ) không chỉ là một người đề cập lại những khám phá về căn bệnh ung thư trước đây khi việc tiếp cận thuật chữa bệnh bằng tâm linh hoàn thiện hơn được đưa ra. Trong cuốn sách của ḿnh, Temoshok trích dẫn rất nhiều những trường hợp chữa bệnh ung thư thành công và những nghiên cứu khác trong lĩnh vực này sử dụng cách tiếp cận tâm linh trọn vẹn hơn. Hăy xem ví dụ trong câu chuyện của Irwin:
Chẩn đoán ban đầu với ung thư tinh hoàn , ung thư rốt cục cũng đă lan rộng ra ung thư ngực, phổi, bạch huyết . Một khối u trong cổ anh ta đă phát triển rất lớn khiến cho anh ta phải rất nỗ lực để giữ đầu ḿnh ở một vị trí nghiêng trông thật buồn cười. Bác sĩ của anh ta đă nói với anh ta rằng thậm chí với cách chữa trị tốt nhất vào thời điểm đó ( một sự phối hợp của mổ, bức xạ, coban và Nitơ mà anh ta đă phải trải qua ) anh ta cũng chỉ sống từ 3 đến 4 tháng nữa và không có một cơ hội nào để tồn tại cả. Lúc này, anh ta đă t́m kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ chữa bệnh bằng liệu pháp tâm lư người mà sử dụng thôi miên song song với phân tâm học. Nhờ thôi miên, anh ta đă có thể đề xuất trị liệu nhắm vào việc khai phá tiềm năng yêu và được yêu của anh ta và làm việc để đạt được mục tiêu dài hạn của cuộc sống. Trong ṿng sáu tháng, anh ta đă giải quyết được những vấn đề yêu đương, tiến tới hôn nhân và được đề bạt như một giám mục-một mục tiêu dài hạn của anh ta.Vào ngày anh ta được phong chức giám mục " anh ta nhận tin báo là bản Xquang không c̣n cho thấy sự xuất hiện của ung thư. U bạch huyết và phổi là hoàn toàn sạch sẽ. Điều thần kỳ này dường như xuất hiện 6 tháng sau chẩn đoán ban đầu của anh ta... Giờ đây, 33 năm sau Irwin vẫn sống tốt và không c̣n dấu hiệu của ung thư ". ( Temoshok, 1993 trang 320 các phần chữ nghiêng được thêm ).
Nên chỉ ra rằng giai thoại trên trong bài viết của tôi về chữa lành được bệnh ung thư thông qua chữa trị bằng đức tin đă làm tốt hơn nhiệm vụ hỗ trợ cho chữa bệnh bằng đức tin và là bằng chứng rơ ràng hơn về khả năng chữa ung thư bằng phương pháp sử dụng tiếp cận tinh thần/tâm linh. Từ bằng chứng trên, chúng ta sẽ cần những nghiên cứu kiểm soát rộng hơn. Trong những nghiên cứu này, tất cả những biến số quan trọng có thể được nghiên cứu một cách có hệ thống và theo những điều kiện quản lư có khoa học. Ví dụ những nghiên cúu này sẽ bao gồm những phương pháp đo lường toàn diện hơn, chính xác hơn về sức mạnh của ḷng tin là thế nào cũng như phải thay đổi lối sống cần thiết như thế nào cho mỗi trường hợp. Sau đó tôi có cảm thấy được lối mở cho câu hỏi thường được đưa ra này: " bạn giải nghĩa cho trường hợp giai thoại đối lập này như thế nào khi mà các bệnh nhân không may cố gắng cầu nguyện cho sự phục hồi căn bản của họ nhưng không có hiệu quả?" Một câu trả lời cho câu hỏi tương tự có thể là mức độ và độ dài của chữa trị sẽ được tương quan trực tiếp với độ lớn của ḷng tin và chiều sâu của những thay đổi cuộc sống có liên quan mà đă diễn ra.
Cầu nguyện như thế nào?
Có một khái niệm liên quan đến ḷng tin và sự tin tưởng đó chính là sự cầu kinh. Cầu kinh được định nghĩa như là một phương tiện ngôn ngữ dùng để bày tỏ những mong muốn của ḿnh khi cầu xin Chúa giúp đỡ. Ví dụ như khi bạn cầu kinh "Tôi cầu Chúa hăy chữa cho tôi (hay cho bạn) khỏi ốm và sự đau đớn",bạn sẽ tŕnh bày những mong muốn của bạn. Mặc dù việc cầu nguyện này được trả lời hay không c̣n phụ thuộc vào 3 điều: (1) độ lớn của ḷng tin ( cả người cầu nguyện và cả người được người khác cầu nguyện cho ); (2) Mức độ kết hợp chặt chẽ giữa cá nhân anh ta và Đức Chúa ( ví dụ: kết hợp các nhân tố hướng dẫn ) và (3) các quy luật của tự nhiên. Điều sau cùng là rất quan trọng bởi v́ việc cầu kinh không nên chống lại ư Chúa. Thật sáng suốt cho những ai mà đă mất một chân hoặc một tay, cầu nguyện cho chân hay tay c̣n lại, cầu cho khả năng học nhanh cách sử dụng chân, tay giả và cầu cho suy nghĩ đúng đắn để không cảm thấy thấp kém hơn người khác khi mất chân, tay...
Tuy nhiên một người không nên quá nhanh chóng giới hạn lại lời cầu nguyện cho sự kinh hăi của ḿnh khi mà người đó có thể đang có quá nhiều câu hỏi trong đầu rằng liệu lời cầu nguyện đó có chống lại những quy luật tự nhiên không. Cùng thời điểm chúng ta không c̣n nhận ra đầy đủ tất cả luật lệ của tự nhiên. Có thể trong Kinh Thánh có những điều không phù hợp với luật lệ tự nhiên; tuy nhiên cũng có thể trong tương lai, luật lệ có thể được khám phá để giải thích cho những điều kỳ diệu được mang tới bởi những lời cầu nguyện tương tự.
Ngày nay, có thể khẳng định rằng mục đích của cầu nguyện không hề đấu chọi với các luật lệ tự nhiên, vậy niềm tin và các nhân tố hướng dẫn đóng vai tṛ như thế nào trong việc quyết định lời cầu kinh có được trả lời hay không? Như đă được chỉ ra trong phần đầu " niềm tin là ǵ?" và " liệu có tồn tại phương pháp chữa bệnh bằng đức tin thực sự không?", chính niềm tin có thể sản sinh ra hiệu quả trực tiếp bởi việc làm lớn mạnh thêm ( tập trung ) sức mạnh của suy nghĩ để tác động vào cơ thể hoặc ảnh hưởng hành vi ứng xử . Tuy nhiên như đă được nhấn mạnh trong 2 phần này, để duy tŕ các chức năng của thân thể hay những thay đổi trong hành vi th́ những thay đổi đó phải là thay đổi cố định trong cách sống của mỗi người ( quan điểm, ḷng tin và lối sống của mỗi người ). Trong các phần khác, nhân tố hướng dẫn cũng phải được kết hợp với những yếu tố đó.
Vẫn có câu hỏi liệu có hay không và nếu có th́ cầu nguyện có thể ảnh hưởng tới các nhân tố bên ngoài như thế nào- các nhân tố mà chúng ta không có sự liên hệ tiếp giáp với chúng. Ví dụ trong trường hợp cầu nguyện cho một người nào khác nữa, liên hệ tiếp giáp sẽ bao gồm cầu nguyện trong phạm vi nghe của người đó, hoặc một người đang nghe bạn cầu nguyện qua phone hay đài hoặc nghe thấy rằng bạn đă cầu nguyện cho anh ta hoặc cô ta. Một sự liên hệ không tiếp giáp sẽ có nghĩa là một người được cầu nguyện cho không chủ ư biết là anh ta hoặc cô ta đang được cầu nguyện.
Theo cách đó liệu cầu nguyện để chữa bệnh cho một ai đó có thể có hiệu quả hay không khi một người không biết rằng anh ta hoặc cô ta đang được cầu nguyện cho? Hoặc cầu nguyện cho có mưa th́ liệu có thể có mưa thật sự được hay không? Vâng, có hai cách cầu nguyện có thể tác động đến các nhân tố khác bên ngoài là cầu nguyện trực tiếp và gián tiếp. Trong trường hợp cầu nguyện cho một ai đó không được biết đến, cách trực tiếp có thể bao hàm một vài cách thần giao cách cảm như một cách đạt được cầu ngu |