>> About Dr. Barrios
>> Self Programmed Control (SPC)
>> Articles by Dr. Barrios
>> Seminars
>> Books by Dr. Barrios
 
 


THUYẾT THÔI MIÊN

TÓM TẮT
Thuyết thôi miên tổng quát chính là những nỗ lực nhằm giải thích 3 đặc điểm chính trong thuyết thôi miên dựa trên những nguyên tắc điều kiện và sự ức chế. (1) Phương pháp kích thích ảo giác được hiểu là nguyên tắc điều kiện sản sinh ra tác nhân gây ức chế. (2) Liệu pháp thôi miên (phản ứng phục hồi tăng) xảy ra do tác nhân này có thể hạn chế những tác nhân kích thích (gồm cả cảm giác và nhận thức) thông thường sẽ mâu thuẫn giải pháp đưa ra. (3) Những thay đổi về hành vi sau thôi miên được giải thích khi đang tiến hành thử nghiệm ở điều kiện cao hơn; điều kiện này được tác nhân gây ức chế hỗ trợ giúp hạn chế những tác nhân gây kích thích không phù hợp với điều kiện mới. Người ta cho rằng học thuyết này đủ mạnh để không những giải thích được về hiện tượng thôi miên và những giải pháp của nó, mà cả những lĩnh vực liên quan như thuyết phục, ảnh hưởng và niềm tin cho người bệnh, cũng như không đề cập đến triệu chứng mới của bệnh.

THUYẾT THÔI MIÊN: GIẢI THÍCH LIỆU PHÁP THÔI MIÊN, HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN VÀ CHẨN ĐOÁN SAU THÔI MIÊN
Tiến sĩ Alfred A. Barrios
Trung tâm tự kiểm soát bản thân, thành phố Culver bang Califonia.

Trong nhiều năm qua, có nhiều người quan tâm đến hiệu quả của liệu pháp thôi miên và nhu cầu sử dụng liệu pháp này đă tăng lên đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bất kể nhu cầu đó có cao đến đâu, dường như cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lư học vẫn tỏ ra không mấy hài ḷng với liệu pháp này. Tại sao lại như vậy?

Có ư kiến cho rằng lư do mà giới y khoa thời ơ với liệu pháp thôi miên không phải do nhu cầu không có thực hoặc quá cường điệu, tuy nhiên đó chính là v́ không thể ước lượng được số người tham gia vào liệu pháp này. Ẩn số này gây ra những nỗi sợ hăi (Phản ứng bản năng trước một điều bí ẩn), nhiều quan niệm sai lầm và rất nhiều lời chỉ trích không công bằng khiến người bệnh không dám hoặc tránh sử dụng liệu pháp này. Đến lúc đó, những ǵ chúng ta thực sự cần là một học thuyết hay một lời giải thích phù hợp về thuật thôi miên sẽ gắn kết nó với những bộ luật và thực tế hiển nhiên, và nhờ đó giúp chúng ta khai thác được lĩnh vực mới và bao trùm này. Học thuyết sau đây cho thấy những nỗ lực để đạt được kết quả này.

Học thuyết được chia thành 3 phần chính, mỗi phần sẽ đề cập đến 3 khía cạnh về thuyết thôi miên. Mỗi phần sẽ bắt đầu bằng những định nghĩa về các thuật ngữ, sau đó những giả thuyết chính và hệ quả sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho những mục này sau những chẩn đoán từ những bài kiểm tra kỹ lưỡng. Có tổng thể 7 giả thuyết cấu thành nên hệ giả thuyết. Giả thuyết I-III đề cập đến khía cạnh thứ nhất, giới thiệu về thuật thôi miên, Giả thuyết thứ IV và V đề cập đến khía cạnh thứ hai, hiện tượng thôi miên. Giả thuyết thứ VI và thứ VII đề cập đến khía cạnh thứ ba, chẩn đoán sau thôi miên. Nguyên do chia học thuyết này thành 3 phần nhằm nhấn mạnh sự thật rằng khi một người cố gắng giải thích về thôi miên, anh ta buộc phải tiến hành nhiều bước hơn nữa để giải thích hiện tượng thôi miên. Anh ta cũng buộc phải giải thích trạng thái thôi miên được tạo ra như thế nào và liệu pháp thôi miên tạo ra những thay đổi về hành vi sau thôi miên như thế nào. Những học thuyết gần đây nhất thực chất chỉ đề cập được vấn đề hiện tượng thôi miên.

Lời giải thích toàn diện nhất được đề cập sẽ chủ yếu căn cứ vào những nguyên tắc luyện tập và sự ức chế được mô tả trong các định đề. Về tổng quan, phương pháp kích thích thôi miên này được xem là điều kiện của tiền đề kiềm chế nhằm tăng tính chính xác cho giả thuyết bằng cách hạn chế những tác nhân kích thích và những suy nghĩ không phù hợp với đáp án giả định. Những hiện tượng thôi miên khác nhau bao gồm có hiện tượng chẩn đoán sau thôi miên sẽ được giải thích trong những thuật ngữ trong mục này.

Học thuyết được đề cập trong phần này là một phần trong luận văn tiến sĩ năm 1969 tại trường Đại Học California thuộc bang Los Angeles. Luận văn này một phần được hỗ trợ từ phía những đồng nghiệp trong Tổ chức Y Tế Cộng Đồng thuộc Viện Sức Khoẻ Thần Kinh Quốc Gia, Tổ chức Y tế Cộng Đồng.

NHỮNG ĐỊNH ĐỀ CƠ BẢN
Một trong những mục đích chủ yếu của bất kỳ học thuyết hay bài thuyết tŕnh nào đó là phải kết hợp chặt chẽ giữa những triệu chứng đă được giải thích với những quy tắc hiện hành. Có thể thực hiện điều này bằng cách trước tiên phải nhận diện được những quy tắc hiện hành và sau đó chứng minh được học thuyết này (hệ giả thuyết giải thích cho những hiện tượng) được rút ra từ những quy tắc đó như thế nào cũng như chứng minh nó phù hợp với những quy tắc này hay không. Dưới đây, chúng ta sẽ nhận biết được những quy tắc hiện hành (chính là những định đề) sẽ được kết hợp chặt chẽ với học thuyết thôi miên.

Khi một đọc giả xem qua những định đề này, anh ta nên nhớ rằng tại thời điểm này khoa học tâm lư vẫn chưa đạt được đến điểm mà chúng ta thực sự có thể nói về quy định trong khả năng của những quy tắc được chấp nhận và xây dựng kiên cố. V́ thế không ai có thể mong đợi việc anh ta sẽ hoàn toàn chấp nhận giá trị pháp lư của những định đề này. Tuy nhiên, người ta cho rằng bằng chứng thuyết phục sẽ được sử dụng nhằm chứng minh những định đề này là những t́nh huống hợp lư so với những quy định trước đây. V́ thế, nếu những giả thuyết của học thuyết hiện nay được kiểm chứng và thông qua, th́ giá trị pháp lư của những định đề này bản thân nó sẽ tự được phát triển hơn nữa. 

Định đề I. Sự ức chế tương hỗ
Khi một cơ chế đang tham gia vào hoặc phản ứng lại với một tác nhân kích thích, sẽ có sự ức chế tương hỗ do phản ứng và tác nhân kích thích không phù hợp. 

Sherrington (1906-1940) là một trong những người đầu tiên khám phá ra hiện tượng ức chế tương hỗ. Ông nhận thấy rằng những chuyển biến không phù hợp như đảo mắt từ trái sang phải được trung ương thần kinh kiểm soát chặt chẽ tới mức khi hoạt động của cơ tăng lên sẽ làm giảm đi hoạt động của cơ đối xứng nó. Loại ức chế tương tự cũng được phát hiện khi con người sao nhăng và tập trung, v́ khi tập trung vào một vật thể, bạn không thể tập trung vào một vật khác được”. (Woodworth và Schlosberg, 1954, trang 669).

Luận điểm mới đây được chứng minh qua công tŕnh của Hermandez-Peon (1959). Ông đă chứng minh được rằng khi một cơ chế hướng vào một tác nhân kích thích th́ tác nhân kích thích khác đang tác động đến nó sẽ bị hạn chế. Việc hạn chế những tác nhân hướng ly tâm đă chứng minh cho mọi loại cảm giác (Lindsley, 1961). Những loại tác nhân kích thích gần như có liên quan và phản ứng lại (và nhờ đó những loại tác nhân kích thích mới bị hạn chế) trong những t́nh huống cụ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: cường độ kích thích, sự đột biến của tác nhân kích thích, ư nghĩa cần thiết của tác nhân kích thích, đặc điểm cảm giác… (Berlyne, 1960). Một số loại tác nhân kích thích có đặc tính trội hơn những loại khác, và nhờ thế tạo ra được một “chuỗi tác nhân kích thích trội”.

Hệ quả 1: 
 Nếu một tác nhân kích thích trội tự triệt tiêu hoặc loại bỏ, những tác nhân kích thích sau nó trong chuỗi đang tự khắc chế lẫn nhau đó lúc này sẽ phản ứng với nhau mạnh mẽ hơn. 

Định đề II: Kích thích nhận thức
Hành vi được quyết định bởi tác nhân kích thích nhận thức cũng như tác nhân kích thích cảm giác.

Chúng ta biết rằng hành vi của một cơ chế trong một t́nh huống cụ thể có thể được quyết định bởi những loại hành vi bẩm sinh cụ thể. Một vết gai đâm sẽ gây cảm giác đâu đớn (nỗi đâu từ những chỗ bị thương, khóc lóc, phiền năo, đổ mồ hôi ḷng bàn tay…); cho chút muối trên đầu lưỡi sẽ gây chảy nước miếng; kích thích cơ quan sinh dục sẽ tạo ra nhiều loại phản ứng sinh lư khác nhau… Những tác nhân kích thích đó dường như đă tạo ra “sự liên kết” hay những loại hành vi bẩm sinh. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng những cơ chế không phải luôn luôn có những phản ứng tương tự nhau trước những tác nhân kích thích giống nhau. Học hỏi và điều trị bệnh có thể và đang đóng một vai tṛ hết sức quan trọng, đặc biệt đối với con người trong việc thay đổi hành vi. Ví dụ, phản ứng do kích thích bộ phận sinh dục gây ra có sự khác nhau giữa người này với người khác là điều tất yếu hoặc do sự trải nghiệm của người này, hoặc do bệnh tật của người khác. Nếu một người được dạy rằng t́nh dục là cái ǵ đó bẩn thỉu và tồi tệ, th́ anh ta sẽ dễ dàng có phản ứng với cảm giác kinh tởm và tội lỗi hơn so với phản ứng trong quan hệ t́nh dục thông thường (“sự gắn kết”). V́ thế chúng ta có thể nói rằng tác nhân kích thích cũng có thể gắn kết những loại hành vi được “học” và được “yêu cầu”.

Một cách tạo ư tưởng thay đổi hành vi bằng việc học tập là phải xem cơ chế như đang phản ứng lại không chỉ đối với sự kích thích cảm giác mà c̣n đối với những ǵ có trong trí nhớ, đă được ghi nhận hay tác nhân kích thích về nhận thức. Một tác nhân kích thích cảm giác được định nghĩa như một tác nhân đang tiếp cận đến cơ chế thông qua cảm giác. Một tác nhân kích thích nhận thức ở đây có thể hiểu là một tác nhân kích thích xuất phát từ tiềm thức (những dấu tích cụ thể hoặc ghi nhận lại những trải nghiệm trong năo bộ). Việc tác nhân kích thích này có khả năng tiềm tàng trong việc h́nh thành và điều khiển hành vi như bất kỳ một tác nhân kích thích cảm giác nào đă trở thành một định đề. Ví dụ, điều đó có nghĩa là tổ hợp những tác nhân kích thích di truyền trội có thể được tạo ra bằng cả hai tác nhân kích thích về cảm giác và thần kinh.

Người ta cho rằng những suy nghĩ trong tiềm thức này được h́nh thành thông qua một quá tŕnh biến đổi (xem Định đề III bên dưới) và được tạo ra nhờ một tác nhân kích thích có điều kiện. Tác nhân kích thích có điều kiện này vừa là tác nhân kích thích cảm giác, vừa là tác nhân kích thích về nhận thức. Ví dụ, suy nghĩ về mùi một miếng thịt nướng (tác nhân kích thích nhận thức) có thể gắn với việc ngửi thấy mùi của miếng thịt đang nướng (tác nhân kích thích cảm giác) hoặc suy nghĩ về một nhà hàng cụ thể nào đó chuyên bán thịt nướng (Kích thích về nhận thức).

Dưới chiều hướng của tác nhân kích thích về nhận thức chúng ta có thể nhận ra những điều này như những suy nghĩ, h́nh ảnh, niềm tin, chiều hướng, giá trị, quan điểm, ư tưởng… Một tác nhân kích thích nhận thức có thể được đánh giá tương đương với “hành động tác nhân kích thích trong lành” của Hull (1933), “Trạng thái mong đợi” của Tolman (1932), “Cơ chế tượng trưng” của Osgood…

Lư do sử dụng thuật ngữ “Kích thích nhận thức” chứ không sử dụng những thuật ngữ như “Trạng thái mong đợi”, “suy nghĩ” hay “nhận thức” đó là sự bao hàm của thuật ngữ “tác nhân kích thích” có hàm ư sâu xa hơn rất nhiều. Trước đây, những nhà lư luận về nhận thức đă không ngừng chỉ trích việc bỏ ngỏ những thuật ngữ này.

Chứng minh cho luận điểm cho rằng những kư ức ghi lại trước đây được dự trữ trong năo bộ ít nhất bắt nguồn từ 2 nguyên nhân. Thứ nhât, công tŕnh nghiên cứu của Penfied (1954) đă cho rằng việc kích thích bằng điện vào năo thái dương của con người gây ra chủ thể ảnh hưởng đến h́nh tượng mạnh tới mức khó có thể nhận diện chúng chính xác được. Những ảo giác này chính là những h́nh ảnh ảo từ những kinh nghiệm thực tiễn đă từng trải qua trong quá khứ hoặc hiện tại. (“Cả những kỷ niệm xưa cũ và hiện tại đều dễ dàng khơi lại.”)                                           

 “Nh́n chung, những kư ức do kích thích tạo ra dường rơ ràng như chúng là thế hệ thứ hai sau chủ thể. Trên thực tế, dường như những kư ức này cũng rơ ràng như lúc diễn ra. Đây là phần khá quan trọng v́ hành động đang diễn ra và bệnh nhân là người thực hiện. Dường như anh ta có thể nghe, nh́n và phản ứng nữa”. (Trang 99)

Công tŕnh nghiên cứu của Penfield liên quan chặt chẽ với những báo cáo bệnh án mà trong đó, những khối u năo tại vỏ thái dương cũng có thể gây ra những ảo giác phức hợp và rắc rối (Weinberger và Grant, 1940). Người ta cho rằng kích thích khối u và kích thích điện cả hai đều gây ra tiềm thức nhưng ngược lại, tiềm thức đó lại dẫn đến ảo giác.

Nguyên nhân thứ 2 hỗ trợ sự tồn tại của những tiềm thức được sử dụng trong công tŕnh nghiên cứu gần đây chứng minh sự tồn tạ của RNA trong quy tŕnh lưu lại trí nhớ. Những nghiên cứu được tóm lược trong nhiều bài báo và trang sách gần đây (Như Brazier 1964; Landauer 1964; Gaito và Zavala 1964; Jocobson 1966 đă cho rằng những ǵ đă trải qua trước đây được ghi lại trong năo bộ bằng cách tái cơ cấu phân tử RNA. Ví dụ, theo Landauer (1964) khi hai tác nhân kích thích có tên CS và US xoắn lại, phân tử RNA đại diện cho CS xâm nhập vào tế bào năo do US phóng ra. Kết quả của việc kết hợp phân tử RNA mới đại diện cho CS đă biến đổi tế bào nhận hay những tế bào US để kích thích chúng bằng cơ chế điện từ lan rộng do CS phát ra. V́ thế, những tiềm thức mà chúng ta đang nói đến có thể được xem là những phân tử RNA được sắp xếp lại đă xâm nhập vào những tế bào thần kinh thường do US phát ra. Một tác nhân kích thích nhận thức là sự kích thích do những tế bào US được biến đổi truyền ra từ sự kích thích do tế bào CS gây ra.

Một liên kết cực kỳ quan trọng từ khái niệm tiềm thức trên đây đó là tất cả những kinh nghiệm đă được ghi nhớ đều không tránh khỏi việc “tái cơ cấu” nếu nhớ lại một kư ức nào đó phù hợp. Mất hay quên đi kư ức được giải thích bằng thuật ngữ hoặc một giả thuyết giao thoa rằng “tái cơ cấu” không thể diễn ra nếu một số tác nhân kích thích trội gây ra phản ứng không phù hợp với phản ứng do CS tạo ra. Nếu những phản ứng cạnh tranh được xoá bỏ, kư ức tương tự sẽ được hồi sinh (tác nhân kích thích nhận thức có thể được sinh ra)

Định đề III. Điều kiện
Nếu một cơ chế tham gia vào hai tác nhân kích thích trong sự tiếp giáp gần th́ hai tác nhân kích thích này sẽ kết hợp lại với nhau đến mức khi diễn ra sự biến đổi sau của tác nhân kích thích thứ nhất, phản ứng đối với tác nhân thứ 2 sẽ diễn ra. 

Về cơ bản, định đề này là cách hiểu về điều kiện trong “Mối tương quan S-S” với điều kiện bổ xung rằng cơ chế phải liên quan được hoặc tham gia vào hai tác nhân kích thích này. Ư thức và tham gia hơn nữa gần đây đă được chỉ ra là cần thiết từ nhiều cuộc khảo sát nghiên cứu như: Gurthrie (1959); Speilberger (1962); Dulany (1962); Maltzman (1966) và Trabasso và Bower (1968). Do đó, theo định đề này, (1) mối liên tưởng giữa những tác nhân kích thích mà không phải duy nhất một và phản ứng cần có nhờ phương pháp S-R; và (2) sự liên tưởng giữa những tác nhân tham gia chính là điều kiện cần và đủ theo quy định để thực hiện và không có ư định hoặc không cần phải giảm xuống theo yêu cầu trong phương pháp “Luật Nhân Quả”. Theo quan điểm của nhiều tác giả, bằng chứng này cho thấy rằng đây là những đặc điểm nhỏ nhặt và bao hàm hơn trong ba điểm có hệ thống chính trội hơn trong tâm lư học này (cụ thể là, mối tương quan S-S, Mối tương quan S-R và những phương pháp Nhân quả S-R).

Như đă nói, phương pháp liên tưởng S-S cho cho biết rằng phản ứng đầu tiên diễn ra giữa những tác nhân kích thích chứ không phải giữa một tác nhân kích thích với một phản ứng. Tất nhiên điều đó không có nghĩa một tác nhân kích thích không thể liên kết được với một phản ứng. Vị trí của S-S sẽ giải thích cấu trúc giữa tác nhân kích, S1 và phản ứng, R2 bằng cách chỉ ra rằng cấu trúc này diễn ra giữa S1 và S2 trong khi S2 là tác nhân kích thích thường tạo ra R2. Dường như vị trí của cấu trúc S-S rộng răi hơn cấu trúc S-R nghiêm ngặt v́ cũng như đang giải thích cấu trúc giữa những tác nhân kích thích và những phản ứng, nó cũng có thể giải thích sự h́nh thành những cấu trúc giữa các tác nhân mà không hề có một phản ứng hữu h́nh nào trong đó. (Theo chúng tôi, một trong những yếu điểm hay vị trí cấu trúc S-R là việc sẽ khó khăn hơn rất nhiều đối với các nhà lư luận khi nghĩ đến hiện tượng băo hoà đang diễn ra mà không hề có một phản ứng hữu h́nh nào). Bằng chứng này hỗ trợ ư tưởng từ nhiều nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau cho rằng những cấu trúc có thể diễn ra giữa những tác nhân kích thích mà không cần phản ứng. Những nghiên cứu đó bao gồm (1) phản ứng tiền dung hoà cảm giác, (2) nghiên cứu giác quan, và (3) nghiên cứu không cần phản ứng. Một quan điểm bao trùm trong những nghiên cứu này có thể t́m thấy trong cuốn Kimble (1961).

Ngoài việc nói rằng những quần hợp này diễn ra giữa những tác nhân kích thích, Định đề III khẳng định mối tiếp giáp giữa những tác nhân kích thích trong trọng tâm vấn đề chính là điều kiện cần và đủ để quần hợp diễn ra. Điều này trái ngược với vị trí của mối liên kết “Hiệu quả” mà cho rằng ngoài liên kết, một số mô h́nh định hướng hay cần được liên kết là điều kiện cần để quần hợp diễn ra. Mặc dù không ai có thể phủ nhận nguyên phân và giản phân giúp quá tŕnh băo hoà đáng kể, tuy nhiên có một bằng chứng chỉ ra rằng băo hoà vẫn có thể diễn ra mà không cần đến quá tŕnh giản phâm.

Bằng chứng chống lại vị trí “Hiệu ứng” xuất phát từ một số chương tŕnh nghiên cứu (Cũng được đề cập trong cuốn Kimble, 1961), bao gồm có (1) Những chương tŕnh nghiên cứu phục hồi tiềm tàng, (2) Những chương tŕnh nghiên cứu về đường, (3) Những nghiên cứu khám phá và (4) Những nghiên cứu kích thích năo bộ bên cạnh tiền băo hoà cảm giác và những nghiên cứu về trực giác đă được đề cập.

Hệ quả 2: 
Bất kỳ chất nào làm tăng khả năng khích của các chất kích thích ghép cặp trong chuỗi tác nhân kích thích trội sẽ giúp quá tŕnh băo hoà diễn ra đơn giản.

Hệ quả này xuất phát từ định đề v́ vế sau khẳng định rằng tác nhân CS và US phải là trọng tâm được ghép cặp. Nếu có sự xuất hiện của tác nhân kích thích trội hơn khác, điều kiện này sẽ không được đáp ứng. V́ thế, bất kỳ tác nhân nào hạn chế sự cạnh tranh giữa các tác nhân kích thích đều giúp cho quá tŕnh băo hoà.

Hệ quả 3:
Những từ ngữ có thể đóng vai tṛ như những tác nhân kích thích có điều kiện có khả năng tạo ra những tác nhân kích thích tri giác gián tiếp tạo ra những phản ứng tương tự như những phản ứng được tạo ra từ những tác nhân kích thích vô điều kiện đầu tiên.

Pavlov là một trong những người đầu tiên phát hiện ra rằng ngôn từ có thể đóng vai tṛ như những tác nhân kích thích có điều kiện.

"Rơ ràng ngôn ngữ của loài người tạo ra những tác nhân kích thích có điều kiện có giá trị tương đương như những tác nhân khác… Bởi v́ toàn bộ cuộc sống của một người trưởng thành trước đây, ngôn ngữ liên kết với tất cả những tác nhân kích thích bên trong và bên ngoài và truyền lên vỏ năo, dịch chuyển tất cả và thay thế tất cả những tác nhân kích thích đó, và nhờ đó nó có thể tạo ra mọi phản ứng của cơ chế thông thường do chính bản thân tác nhân kích thích thực đó quyết định.” (Pavlov, 1960, trang 407).

Việc những ngôn từ này có thể đóng vai tṛ như những tác nhân kích thích có điều kiện đă được kiểm định qua nhiều cuộc thí nghiệm. Giống như Platinov (1959) đă chỉ ra, Vasileyva nhận ra rằng ông có thể đặt điều kiện cho một hệ thống cảnh báo mắt cắp xe bằng chuông. Hudgins (1933) có thể yêu cầu học sinh trong khoá học của ḿnh tập trung vào hợp đồng khi nghĩ đến từ “hợp đồng”. Menzines (1941), bằng việc gắn kết từ "những nỗi khổ” với việc nhúng đôi bàn tay vào nước lạnh có thể sử dụng những đề tài này đến mức khi họ nói ra từ “những nỗi khổ”, nhiệt độ trong bàn tay đă giảm đáng kể. Quan điểm này cũng đồng nhất với quan điểm của Hull:

Trong những cuộc thử nghiệm khoa học ngôn từ của những người tham gia thử nghiệm có lẽ ít khi thực hiện chức năng như về âm thanh và nhiệt độ thông thường… (Tác nhân kích thích có điều kiện) trong những cuộc thử nghiệm phản ứng có điều kiện.” (Hull.1993 trang 280)

Một điểm thú vị cần phải cân nhắc đó là những hiệu ứng gia tăng của những tế bào giảm nguyên (như thức ăn và t́nh dục) có thể tự được đặt dưới một lời giải thích của sự gia tăng kích thích này. Đây là trường hợp nếu chúng ta xem xét khả năng đó là sự kích thích mở gây ra của quá tŕnh giảm phân mà bản thân nó đóng vai tṛ quan trọng trong việc tăng lên hơn là mức độ lan tràn. Điều này dường như rất trùng hợp với luận điểm được nhắc đến trong bài viết về điều kiện giảm phân trong cuốn ''Drive Induction” của Sheffield (1966) và ''Go-Mechanism” của Miller (1963). Lư do hầu hết những tác nhân giảm phân trở nên hiệu quả như thế có thể là do chúng là những tác nhân kích thích mà nhờ những giá trị gợi lên cao của chúng sẽ được đưa vào những vị trí cao hơn trong hệ thống cấp bậc của những tác nhân kích thích trội, cũng như đặt bất kỳ một tác nhân kích thích nào gắn kết chặt chẽ trong hệ tác nhân này.

Việc những ngôn ngữ có thể tạo ra những phản ứng tương tự như những phản ứng sinh ra từ những chất kích thích vô điều kiện được thay thế cũng nhận được nhiều sự đồng thuận từ những nghiên cứu khác nhau. Ví dụ trong những nghiên cứu như của Schultz (1950), Vandell, David và Uugston (1943), Max (1937) và Jacobson (1938) đă chứng minh rơ ràng tới mức suy nghĩ có thể giúp làm tăng những mô h́nh hoạt động và căng cơ cụ thể đặc trưng trong những câu hỏi thường trực trong suy nghĩ.” (Weitzenhoffer, 1953 trang 246). Cũng đă có rất nhiều cuộc thử nghiệm đă cho thấy nhiều phản ứng tri giác và sinh lư được sinh ra bằng cách đi bộ. Những phản ứng này được tóm tắt cụ thể trong hai bài đánh giá của Barber về những hiệu quả của sinh lư học (1961, 1965). Trong những phản ứng sinh ra sau thôi miên mà ông báo cáo, chúng tôi đă nhận ra được nhiều vấn đề như nhịp đập nhanh chậm của tim, mù màu, điếc, những thay đổi bên trong, bài tiết nước bọt, chứng mất cảm giác đau, và các chứng dị ứng. (Ví dụ, nhịp tim tăng có thể do ngôn từ kết hợp với những tác nhân kích thích gây sợ hăi tạo ra; chẳng hạn gợi ra một vài điều ǵ đó đáng sợ.)

Hệ quả 4:
Một phản ứng ức chế tương hỗ có thể được áp dụng tương tự như bất kỳ một phản ứng nào khác nếu phản ứng đó không ngừng xuất hiện với những tác nhân kích thích có điều kiện.

Điều trước tiên chúng ta biết rằng một phản ứng ngăn chặn chỉ có thể được áp dụng giống như bất kỳ một phản ứng nào khác. Ví dụ, Pavlov (1960), đề cập đến những chương tŕnh thử nghiệm tại pḥng thí nghiệm của ông được Volborth thực hiện đă kết luận rằng “nếu một tác nhân kích thích ngăn chặn được áp dụng đồng thời và lập đi lập lại trong những khoảng thời gian ngắn cùng với một số tác nhân kích thích vô tính th́ tác nhân này cũng sẽ phát triển một chức năng ngăn ngừa của riêng nó” (Trang 106 và 404).

Căn cứ theo định đề I chúng ta cũng thấy rằng khi một cơ chế đang phản ứng với một tác nhân kích thích th́ sẽ diễn ra một sự ức chế tương hỗ của bất kỳ một tác nhân kích thích nào dẫn đến những phản ứng không tương thích. Trường hợp đồng thuận với suy nghĩ cho rằng loại phản ứng ngăn ngừa này có thể được áp dụng đă được Wolpe tường thuật rất xúc tích (1958) trong cuốn sách của ông có tên Tâm lư liệu pháp nhờ Sự ức chế tương hỗ. Ví dụ trong nhiều cuộc thử nghiệm, ông chỉ đề cập đến cuộc thử nghiệm do Pavlov thực hiện với một ḍng điện mạnh được sinh ra trong tác nhân kích thích có điều kiện ở phản ứng cho ăn ở chó:

“Ḍng điện dần tăng lên đúng thời điểm cho đến khi nó cực mạnh, tuy nhiên sau đó không hề có một phản ứng tự vệ nào diễn ra. Nói một cách khác, những thói quen thông thường liên quan đến tác nhân kích thích điện với phản ứng tự vệ đă được ngăn chặn. Dường như là trong mỗi phần của cuộc thử nghiệm, hoạt động của phản ứng ăn gồm sự ức chế tương hỗ của phản ứng tự vệ được đánh thức nhờ tác nhân kích thích ḍng điện. Sau nhiều lần lặp lại quy tŕnh này, trong quá tŕnh ḍng điện tăng dần, mức độ ngăn chặn có điều kiện của phản ứng tự vệ được thiết lập lớn tới mức thậm chí những tác nhân kích thích điện rất mạnh không thể tạo ra được phản ứng đó nhưng chỉ có thể tạo ra được phản ứng ăn.” (Wolpe, 1958 trang 30).

Một điều quan trọng cần nhắc đến ở đây đó là trong điều kiện phản ứng ăn, phản ứng ức chế-sự ức chế của phản ứng tự vệ đang đồng thời được sử dụng.

Wolpe cũng trích dẫn bằng chứng từ những cuộc thử nghiệm trước đây được tiến hành trên mèo, nhờ đó trải qua những phản ứng thần kinh bằng cách hạn chế những phản ứng ăn uống của chúng. Bằng chứng này có thể bổ xung cho những thử nghiệm “Peter và Rabbit” của Watson, ở đó sự sợ hăi của những con thỏ giảm dần bằng cách bắt thỏ con ăn thịt thỏ trong nỗi sợ hăi của những con thỏ khác. (Watson, 1957 Trang 172 đến 175). Nh́n chung quan điểm của Wolpe nhận được sự đồng thuận ít nhất từ một một học thuyết đang nghiên cứu. Osgood cho rằng những ǵ ông đề cập đến như "một giả thuyết của sự ức chế tương hỗ trong những phản ứng đối lập" đă nói lên rằng diễn ra đồng thời với sự lớn mạnh trong xu hướng kích thích trong quần hợp của một tác nhân kích thích đă cho với một phản ứng cho trước, cũng đă sản sinh ra sự phát triển trong xu hướng kích thích ở quần hợp của một tác nhân kích thích tương tự với một phản ứng trái ngược trực tiếp. Nói cách khác, xảy ra đồng thời với việc nghiên cứu bất kỳ một phản ứng nào, tác nhân S cũng không được nghiên cứu để tạo ra một phản ứng trái ngược trực tiếp. (Osgood 1948, trang 150)

Hệ quả 5: 
Nếu nhóm tác nhân cản trở những tác nhân kích thích cụ thể được áp dụng đối với tác nhân CS cho trước th́ sự có mặt của CS này sẽ giúp đỡ h́nh thành bất kỳ một phản ứng nào thường bị những tác nhân kích thích này can thiệp.

Hệ quả này được rút ra từ hai định đề I và III. Có sự hỗ trợ thường xuyên nhờ công tŕnh nghiên cứu của Harlow khi nghiên cứu về những tác nhân kích thích và lư thuyết về nguyên nhân độ sai lệch (Koch, 1959). Trong một loạt những chương tŕnh thí nghiệm ông đă chỉ ra rằng khi đưa ra cho những con khỉ một loạt những vấn đề mang tính nhận thức để học th́ từng bước sẽ h́nh thành khái niệm học giúp tạo ra những phản ứng về nhận thức mới và khác nhau. (Tác nhân CS được đề cập trong định đề và trong trường hợp này là bất bất kỳ một tác nhân hay nhiều tác nhân kích thích xuất hiện từ vấn đề này đến vấn đề khác như sự có mặt của bản thân người thí nghiệm).

Harlow giải thích điều kiện thuận lợi này dựa vào sự ức chế có điều kiện được nghiên cứu. Ông đă đưa ra những giả thuyết tương tự như Wolpe khi cho rằng nghiên cứu tạo ra một phản ứng cụ thể th́ cơ chế sẽ nghiên cứu để hạn chế tất cả những tác nhân kích thích không phù hợp hoặc gây phức tạp, hay những ǵ ông gọi là những nhân tố gây ra độ sai lệch (EF). Trên thực tế, ông đă đi quá xa khi nói rằng “nghiên cứu không là ǵ ngoài mục đích ngăn ngừa và hạn chế tác nhân gây ra độ sai lệch” (Koch, 1959 trang 526). Harlow nhận thấy rằng khi loài khỉ buộc phải tạo ra một phản ứng mang tính nhận thức mới, sự ức chế của EF được nghiên cứu này hỗ trợ cho quá tŕnh tạo ra một phản ứng mới được dễ dàng hơn. Điều này là do nhiều trong số những tác nhân gây độ sai lệch được hạn chế khi nghiên cứu những vấn đề trước đây là những tác nhân gây phức tạp tiềm năng trong những phản ứng mới này.

Cũng với sự đồng thuận trong Hệ quả 5 là một sự thật (như Harlow đă chứng minh) rằng trong hầu hết những cuộc thử nghiệm nghiên cứu, người tiến hành nghiên cứu đă nhận ra rằng việc áp dụng những con vật của ông vào những t́nh huống thực nghiệm trước khi bắt đầu nghiên cứu là rất có lợi. “… Các nhà tâm lư học đang thực hiện điều này nhiều thế kỷ nay, ví dụ, đặt những con chuột trên một đường thẳng trước khi cho chúng trải qua một trạng thái lẫn lộn đan xen, bằng cách ấy rơ ràng sẽ làm giảm những tác nhân gây ra độ sai lệch trước khi “nghiên cứu t́nh huống” (Koch, 1959, trang 526). Quy tŕnh thử nghiệm này có thể tạo ra cơ sở của sự ức chế có điều kiện trong những phản ứng không tương thích. Sự ức chế có điều kiện này được sản sinh trong t́nh huống nghiên cứu nhờ những tác nhân kích thích được áp dụng phổ biến trong những cuộc thử nghiệm thực nghiệm và thử nghiệm nghiên cứu.

GIẢI THÍCH VỀ HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN
Nỗ lực được tạo ra dưới đây nhằm giải thích hiện tượng kích thích thôi miên dựa trên những quy tắc điều kiện và sự ức chế đă được nhắc đến trong những định đề trên đây. Người ta sẽ chứng minh được cách cảm ứng thôi miên có thể được giải thích như điều kiện của một dạng ức chế-dạng có khả năng làm tăng phản ứng đối với sự ám thị bằng những tác nhân kích thích ức chế ( cảm giác và nhận thức) không phù hợp với sự ám thị. Lời giải thích này sẽ được thể hiện súc tích thành 3 giả thuyết và bằng chứng để hỗ trợ cho những giả thuyết này. Cuối cùng, một số tác nhân cá nhân lớn có thể ảnh hưởng đến sự kích thích thôi miên như uy tín, mong đợi, nỗi sợ hăi và tuổi tác đă được thảo luận và những vai tṛ của chúng được giải thích bằng những thuật ngữ của học thuyết.

Bước đầu tiên trong việc giải thích sẽ phải định nghĩa những thuật ngữ được sử dụng, sau đó sẽ cố gắng đưa nhân tố kích thích thôi miên vào trong một mô h́nh điều kiện.

Những định nghĩa

Sự ám thị
Định nghĩa về sự ám thị trong quyển từ điển của Warren (1934) như sau: “Sự ám thị là một tác nhân, về bản chất xuất phát từ động từ mà thông qua đó, tác nhân này sẽ t́m cách khơi dậy hoạt động của những tác nhân khác bằng cách phá vỡ những chức năng mang tính hệ thống và then chốt” (trang 267). Dưới đây là định nghĩa về sự ám thị của McDougall (1908 trang 100): “Sự ám thị là một quá tŕnh tạo sự đồng thuận với sức thuyết phục từ những gợi ư được liên kết trong khi thiếu những cơ sở tương thích hợp lư cho sự đồng thuận này.” Hull đă định nghĩa sự ám thị như sau: “…Một phản ứng ám thị thực sự là phản ứng mà ở đó quá tŕnh tượng trưng riêng của chủ thể, thay cho việc tích cực trong cả việc hỗ trợ hoặc chống lại xu hướng hoạt động theo bản năng xuất phát từ ngôn từ của các nhà tiến hành thực nghiệm, vẫn quá bị động đến mức hành động được hướng dẫn cụ thể cũng có liên quan.” (Hull, 1933 trang 307)

Lindzey, (1954 Trang 27), tóm tắt nhiều định nghĩa về sự ám thị đă phát biểu như sau:

“Trong những định nghĩa này và những định nghĩa tương tự, sự quan tâm tập trung vào một số sự hạn chế tuỳ ư trong những yếu tố hành vi. Cá nhân không tận dụng tất cả những ư tưởng tương đương, cũng không phải tất cả trí tuệ của người đó. Rơ ràng sự ám thị xuất phát từ những nguyên tắc cơ cấu (điều kiện), chúng ta vẫn phải bao gồm cả dạng cơ cấu thông thường đến mức kết quả cuối cùng của hành vi là do một loại được lựa chọn trong số những yếu tố quyết định.”

Định nghĩa ám thị đang sử dụng ngày nay được viết như sau:

Một sự ám thị là một tác nhân kích thích hoặc một dạng tác nhân kích thích, có nguồn gốc từ động từ mà qua đó một tác nhân kích thích (1) sản sinh ra một tác nhân kích thích nhận thức khác, và (2) cùng lúc sản sinh ra một loại tác nhân kích thích ức chế có xu hướng hạn chế tác nhân kích thích (cảm giác và nhận thức) không tương thích với tác nhân kích thích được sinh ra3.

Sự khác biệt lớn duy nhất giữa định nghĩa này và những định nghĩa trước đây đă từng được đề cập là sự bố trí xen kẽ- rằng những tác nhân cảm giác cũng như những tác nhân về nhận thức có xu hướng bị ức chế do phản ứng ức chế tạo ra. Tất cả những định nghĩa trên đây dường như nhấn mạnh vào sự hạn chế của những tác nhân kích thích nhận thức mà không đề cập đến sự hạn chế của những tác nhân kích thích cảm giác.

Cần phải nhấn mạnh rằng cả hai giải pháp thôi miên và ám thị thức đều có chung một thành phần cấu tạo là sự ức chế. Sự khác biệt duy nhất giữa hai giải pháp này là với một loại cho trước, loại thứ nhất sẽ có thành phần tạo nên sự ức chế lớn hơn như kết quả từ liệu pháp thôi miên. Từ một cá nhân này đến cá nhân khác, cường độ ức chế ở h́nh thức ám thị thức là rất khác nhau v́ nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể, ví dụ như uy tín (những yếu tố này sẽ được đề cập ở phần sau). Điều đó có nghĩa rằng đối với mỗi giải pháp thôi miên cụ thể, độ phản ứng có thể lớn hơn đối với người đang trong trạng thái thức hơn là đối với người đang trong trạng thái được thôi miên.

Trạng thái vô thức

Trạng thái vô thức được định nghĩa là tâm trạng mà ở đó tác nhân kích thích nhận thức được sinh ra từ sự ám thị phản ứng lại mạnh và nhanh hơn b́nh thường bởi v́ những tác nhân cạnh tranh thông thường đă được giảm thiểu hoặc hạn chế.

(Phản ứng thông thường đối với sự ám thị có thể được quyết định trước đối với mỗi cá nhân)

Tất nhiên, có nhiều cách khác chứ không chỉ ḿnh liệu pháp thôi miên để có được một trạng thái vô thức. Ví dụ, người ta biết rằng mất cảm giác dẫn đến một tâm trạng như vậy (Jackson và Pollard, 1962; Jackson và Kelly, 1962; Pollard, 1962; Jackson và Kelly, 1962; Pollard, Uhr và Jackson, 1963). Những loại thuốc gây ảo giác (ví dụ LSD và thuốc gây ảo giác ancaloit) hoạt động như những chất ức chế cũng được biết có khả năng gây ra trạng thái vô thức (Barrios, 1965; Sjobert, 1965; Solursh và Rae năm 1966).

Thôi miên

Thôi miên được định nghĩa là một trạng thái vô thức có được nhờ sự kích thích ảo giác.3 Cần phải nhấn mạnh rằng chỉ riêng sự khơi dậy những tác nhân nhận thức sẽ tạo ra nhiều sự ức chế riêng biệt về sự cạnh tranh trong những tác nhân kích thích giống như sự khơi dậy của bất kỳ một tác nhân kích thích nào. Tuy nhiên, trong một phương pháp nào đó chúng ta sẽ nhận ra một sự hỗ trợ hạn chế bổ xung trong hoạt động ức chế.

Đó là một trạng thái vô thức (ví dụ dễ dàng gợi ư hơn b́nh thường) bởi v́ khi một sự gợi mở được đưa ra, một phần của hoạt động ức chế trong sự gợi mở ở mỗi cá nhân sẽ lớn hơn về phạm vi tồn tại trong trạng thái thông thường.

Sự kích thích ảo giác được định nghĩa là sự đưa ra hai hay nhiều giải pháp một cách lần lượt để một phản ứng tích cực đối với phản ứng khác làm tăng khả năng phản ứng đối với cái xảy ra sau đó

Việc không phải ḿnh tác giả có những cảm giác cho rằng phản ứng tích cực đối với một loạt những giải pháp hay những nhận định sẽ dẫn đến trạng thái thôi miên đă được dẫn chứng bằng những phát biểu sau đây của tiến sĩ Skinner (1957):

“Với mỗi một người nói cụ thể, hành vi của người nghe cũng là chức năng của những ǵ được gọi là niềm tin (một mô h́nh tương tự như mô h́nh gợi). ...Niềm tin của chúng ta vào những ǵ ai đó nói với chúng ta là một chức năng tương tự hoặc giống nhau trong xu hướng làm theo những ǵ mà họ nói. Nếu chúng ta luôn thành công khi phản ứng lại hành vi ngôn từ của họ, niềm tin của chúng ta sẽ tăng lên rất nhiều.... (trang 159-160)

“Người nghe sẽ phản ứng với hành vi của một người nói ở mức độ được quyết định từ những ảnh hưởng có trước. Người nói có thể gây dựng được niềm tin hay sự tự tin bằng cách đề cập đến nhiều điều thực sự đáng tin tưởng hoặc nhanh chóng được xác nhận, hoặc sử dụng đến những thiết bị hỗ trợ...(trang 365)

“Nhiều thiết bị được sử dụng một cách chuyên nghiệp nhằm tăng niềm tin cho người nghe (ví dụ như thực tiễn hoặc học thuyết) có thể được phân tích theo những thuật ngữ này. Các nhà trị liệu có thể bắt đầu với một loạt những ư kiến đúng đắn có thể tạo được niềm tin đối với người nghe. Sau đó, nói cách khác, một phản ứng mạnh mẽ sẽ được tạo ra từ những nhận định không mang lại hiệu quả hoặc một phản ứng nào. Hiện nay phương pháp thôi miên vẫn chưa được hiểu đúng nghĩa của nó, nhưng điều đó dường như để minh hoạ cho một “niềm tin tăng lên” trong cảm giác lúc bấy giờ.” (Trang 160)

Từ định nghĩa về sự kích thích ảo giác được nhắc đến trong bài này, độc giả có thể bắt đầu nhận ra được tầm ảnh hưởng rộng lớn về thuyết thôi miên được nhắc đến trong bài. Nó không chỉ được dùng nhằm giải thích những ảnh hưởng về hiện tượng thôi miên về vấn đề nhận thức mà c̣n cả những ảnh hưởng thôi miên (tính thuyết phục) của những người bán hàng, những luật sư, chính trị gia,...; hiệu quả của phương pháp thôi miên (giúp trấn an người bệnh) của những nhà tâm lư liệu pháp hay bác sĩ; và thậm chí cả những ảnh hưởng thực sự của thôi miên đối với cả những quan chức hay bệnh nhân.                                                     

Định nghĩa này không phân biệt giữa những t́nh trạng tỉnh táo và mơ hồ hay trong khi ngủ mà đó là chúng ta có thể h́nh thành những giải pháp “kích thích ảo giác thông thường” trong trạng thái nhắm mắt, ngủ gật, ngủ... giống như nhiều giải pháp thức tỉnh. Tuy nhiên thêm vào đó, “ngủ” có thể hỗ trợ nhiều cho việc kích thích ảo giác v́ trạng thái giống như khi ngủ được tạo ra từ đó có thể tạo ra sự những hạn chế thậm chí lớn hơn đối với những tác nhân kích thích đang cạnh tranh với những giải pháp này. 

Như Hull đă nói, “đó là một thói quen thông thường của các nhà thôi miên khi có những giải pháp thư giăn trong khi kích thích hôn mê. ... Những giả thuyết hiện nay thừa nhận rằng sự thư giăn này đạt được hiệu quả nhiều hay ít khi chúng ngăn cản hoạt động ức chế trong quá tŕnh tưởng tượng. Bằng cách hạn chế này sẽ làm mất khả năng kiểm soát thông thường từ việc tưởng tượng dựa trên mức độ suy nghĩ thấp hơn. Điều đó sẽ giúp hoàn thiện những lần kế tiếp so với những ảnh hưởng của những tác nhân kích thích mở từ những tác nhân bên ngoài...” (Hull, 1933, trang 310)

Sự kích thích ảo giác trong Hệ biến hoá điều kiện cổ điển

Trong mục này, chúng ta sẽ cố gắng chỉ ra sự kích thích thôi miên làm thế nào để thực sự trở thành một quá tŕnh điều kiện.

Nghiên cứu Hệ biến hoá điều kiện

Trước khi chúng ta chỉ ra làm thế nào sự kích thích ảo giác phù hợp tới hệ biến hoá điều kiện, chúng ta phải hiểu hệ biến hoá điều kiện là ǵ. Trước hết, như đă chỉ ra trong định đề điều kiện, đối với một quy tŕnh được gọi là điều kiện nó phải bao hàm hai tác nhân kích thích có mặt đồng thời liên tục và thuộc trọng tâm của sự chú ư. Trong hệ điều kiện cổ điển, hai tác nhân kích thích thông thường được ám chỉ đến là CS và UCS. Tác nhân kích thích UCS thường là những tác nhân vô tính (ví dụ không có một phản ứng rơ ràng nào được sinh ra hoặc ít nhất không có phản ứng nào có điều kiện) và tác nhân UCS là một tác nhân kích thích tạo ra một số phản ứng mang tính chất bẩm sinh (ví dụ như nhóm thức ăn--tự vệ; sợ hăi -- rút lui). Tuy nhiên có một điểm quan trọng cần ghi nhớ, đó là không có cơ sở nào khẳng định tác nhân UCS phải tạo ra những phản ứng mang tính bẩm sinh. UCS hay c̣n gọi là tác nhân thứ hai trong cặp này có thể là tác nhân sinh ra phản ứng có điều kiện trước đó hoặc đă được biết đến. Trong hệ điều kiện cổ điển, điều này được đề cập đến như một điều kiện trật tự cao hơn và như Hebb đă chỉ ra, hầu hết những điều kiện trong cơ chế chín muồi thuộc loại điều kiện trật tự cao này.

4 Cần phải nhấn mạnh rằng trong giả định hiện nay, phương thức ru ngủ không phải là điều kiện cần thiết cho một sự kích thích ảo giác. V́ thế việc sử dụng thuật ngữ “thôi miên với ư nghĩa đưa người ta vào giấc ngủ” có thể là sai lầm và có thể thích hợp để thay đổi nó dần.

Một lư do khác cần phải ghi nhớ là bản chất của phản ứng có điều kiện (tác nhân CR). Chúng ta biết rằng trong trường hợp có điều kiện, người thử nghiệm không phải lúc nào cũng có hứng thú với phản ứng hoàn toàn đối với tác nhân UCS. Họ thường tập trung vào một bộ phận cấu thành của UCR mà họ cảm thấy hứng thú trong việc gắn kết chúng với tác nhân CS. Thông thường, bộ phận này là những phản ứng tích cực (ví dụ tự vệ, nháy mắt hay rút lui). Tuy nhiên, từ định đề ức chế tương hỗ chúng ta biết rằng khi xuất hiện một phản ứng tích cực sẽ có một phản ứng ức chế tương hỗ xảy ra. Hiện nay khi áp dụng hệ điều kiện vào sự kích thích ảo giác, chúng ta sẽ tập trung vào thành phần hạn chế hơn là thành phần tích cực.

Cuối cùng, điều thứ ba cần phải ghi nhớ đó là tác nhân CS không cần thiết phải là một điều ǵ đó rơ ràng như tiếng chuông ngân, nhưng có thể đó là sự có mặt của người thực nghiệm cũng như bất kỳ hành động nào được nhắc đi nhắc lại trước mỗi lần tác nhân UCS xuất hiện.

Bây giờ chúng ta sẽ phân biệt cụ thể cái ǵ là tác nhân CS, UCS, UCR, CR và những cuộc thử nghiệm.    

TÓM TẮT

Thuyết thôi miên tổng quát chính là những nỗ lực nhằm giải thích 3 đặc điểm chính trong thuyết thôi miên dựa trên những nguyên tắc điều kiện và sự ức chế. (1) Phương pháp kích thích ảo giác đươc hiểu là nguyên tắc điều kiện sản sinh ra tác nhân gây ức chế. (2) Liệu pháp thôi miên (phản ứng phục hồi tăng) xảy ra do tác nhân này có thể hạn chế những tác nhân kích thích (gồm cả cảm giác và nhận thức) thông thường sẽ mâu thuẫn giải pháp đưa ra. (3) Những thay đổi về hành vi sau thôi miên được giải thích khi đang tiến hành thử nghiệm ở điều kiện cao hơn; điều kiện này được tác nhân gây ức chế hỗ trợ giúp hạn chế những tác nhân gây kích thích không phù hợp với điều kiện mới. Người ta cho rằng học thuyết này đủ mạnh để không những giải thích được về hiện tượng thôi miên và những giải pháp của nó, mà cả những lĩnh vực liên quan như thuyết phục, ảnh hưởng và niềm tin cho người bệnh, cũng như không đề cập đến triệu chứng mới của bệnh.

THUYẾT THÔI MIÊN: GIẢI THÍCH LIỆU PHÁP THÔI MIÊN, HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN VÀ CHẨN ĐOÁN SAU THÔI MIÊN

Tiến sĩ Alfred A. Barrios

Trung tâm tự kiểm soát bản thân, thành phố Culver bang Califonia.

Trong nhiều năm qua, có nhiều người quan tâm đến hiệu quả của liệu pháp thôi miên và nhu cầu sử dụng liệu pháp này đă tăng lên đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bất kể nhu cầu đó có cao đến đâu, dường như cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lư học vẫn tỏ ra không mấy hài ḷng với liệu pháp này. Tại sao lại như vậy?

Có ư kiến cho rằng lư do mà giới y khoa thời ơ với liệu pháp thôi miên không phải do nhu cầu không có thực hoặc quá cường điệu, tuy nhiên đó chính là v́ không thể ước lượng được số người tham gia vào liệu pháp này. Ẩn số này gây ra những nỗi sợ hăi (Phản ứng bản năng trước một điều bí ẩn), nhiều quan niệm sai lầm và rất nhiều lời chỉ trích không công bằng khiến người bệnh không dám hoặc tránh sử dụng liệu pháp này. Đến lúc đó, những ǵ chúng ta thực sự cần là một học thuyết hay một lời giải thích phù hợp về thuật thôi miên sẽ gắn kết nó với những bộ luật và thực tế hiển nhiên, và nhờ đó giúp chúng ta khai thác được lĩnh vực mới và bao trùm này. Học thuyết sau đây cho thấy những nỗ lực để đạt được kết quả này.

Học thuyết được chia thành 3 phần chính, mỗi phần sẽ đề cập đến 3 khía cạnh về thuyết thôi miên. Mỗi phần sẽ bắt đầu bằng những định nghĩa về các thuật ngữ, sau đó những giả thuyết chính và hệ quả sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho những mục này sau những chẩn đoán từ những bài kiểm tra kỹ lưỡng. Có tổng thể 7 giả thuyết cấu thành nên hệ giả thuyết. Giả thuyết I-III đề cập đến khía cạnh thứ nhất, giới thiệu về thuật thôi miên, Giả thuyết thứ IV và V đề cập đến khía cạnh thứ hai, hiện tượng thôi miên. Giả thuyết thứ VI và thứ VII đề cập đến khía cạnh thứ ba, chẩn đoán sau thôi miên. Nguyên do chia học thuyết này thành 3 phần nhằm nhấn mạnh sự thật rằng khi một người cố gắng giải thích về thôi miên, anh ta buộc phải tiến hành nhiều bước hơn nữa để giải thích hiện tượng thôi miên. Anh ta cũng buộc phải giải thích trạng thái thôi miên được tạo ra như thế nào và liệu pháp thôi miên tạo ra những thay đổi về hành vi sau thôi miên như thế nào. Những học thuyết gần đây nhất thực chất chỉ đề cập được vấn đề hiện tượng thôi miên.

Lời giải thích toàn diện nhất được đề cập sẽ chủ yếu căn cứ vào những nguyên tắc luyện tập và sự ức chế được mô tả trong các định đề. Về tổng quan, phương pháp kích thích thôi miên này được xem là điều kiện của tiền đề kiềm chế nhằm tăng tính chính xác cho giả thuyết bằng cách hạn chế những tác nhân kích thích và những suy nghĩ không phù hợp với đáp án giả định. Những hiện tượng thôi miên khác nhau bao gồm có hiện tượng chẩn đoán sau thôi miên sẽ được giải thích trong những thuật ngữ trong mục này.

Học thuyết được đề cập trong phần này là một phần trong luận văn tiến sĩ năm 1969 tại trường Đại Học California thuộc bang Los Angeles. Luận văn này một phần được hỗ trợ từ phía những đồng nghiệp trong Tổ chức Y Tế Cộng Đồng thuộc Viện Sức Khoẻ Thần Kinh Quốc Gia, Tổ chức Y tế Cộng Đồng.

NHỮNG ĐỊNH ĐỀ CƠ BẢN

Một trong những mục đích chủ yếu của bất kỳ học thuyết hay bài thuyết tŕnh nào đó là phải kết hợp chặt chẽ giữa những triệu chứng đă được giải thích với những quy tắc hiện hành. Có thể thực hiện điều này bằng cách trước tiên phải nhận diện được những quy tắc hiện hành và sau đó chứng minh được học thuyết này (hệ giả thuyết giải thích cho những hiện tượng) được rút ra từ những quy tắc đó như thế nào cũng như chứng minh nó phù hợp với những quy tắc này hay không. Dưới đây, chúng ta sẽ nhận biết được những quy tắc hiện hành (chính là những định đề) sẽ được kết hợp chặt chẽ với học thuyết thôi miên.Khi một đọc giả xem qua những định đề này, anh ta nên nhớ rằng tại thời điểm này khoa học tâm lư vẫn chưa đạt được đến điểm mà chúng ta thực sự có thể nói về quy định trong khả năng của những quy tắc được chấp nhận và xây dựng kiên cố. V́ thế không ai có thể mong đợi việc anh ta sẽ hoàn toàn chấp nhận giá trị pháp lư của những định đề này. Tuy nhiên, người ta cho rằng bằng chứng thuyết phục sẽ được sử dụng nhằm chứng minh những định đề này là những t́nh huống hợp lư so với những quy định trước đây. V́ thế, nếu những giả thuyết của học thuyết hiện nay được kiểm chứng và thông qua, th́ giá trị pháp lư của những định đề này bản thân nó sẽ tự được phát triển hơn nữa. 

THUYẾT THÔI MIÊN: GIẢI THÍCH LIỆU PHÁP THÔI MIÊN, HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN VÀ CHẨN ĐOÁN SAU THÔI MIÊN

Tiến sĩ Alfred A. Barrios

Trung tâm tự kiểm soát bản thân, thành phố Culver bang Califonia.

Trong nhiều năm qua, có nhiều người quan tâm đến hiệu quả của liệu pháp thôi miên và nhu cầu sử dụng liệu pháp này đă tăng lên đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bất kể nhu cầu đó có cao đến đâu, dường như cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lư học vẫn tỏ ra không mấy hài ḷng với liệu pháp này. Tại sao lại như vậy?

Có ư kiến cho rằng lư do thờ ơ từ giới y khoa trước liệu pháp thôi miên không phải do nhu cầu không có thực hoặc quá cường điệu, tuy nhiên đó chính là v́ không thể ước lượng được số người tham gia vào liệu pháp này. Ẩn số này gây ra những nỗi sợ hăi (Phản ứng bản năng trước một điều bí ẩn), nhiều quan niệm sai lầm và rất nhiều lời chỉ trích không công bằng khiến người bệnh không dám hoặc tránh sử dụng liệu pháp này. Đến lúc đó, những ǵ chúng ta thực sự cần là một học thuyết hay một lời giải thích phù hợp về thuật thôi miên sẽ gắn kết nó với những bộ luật và thực tế hiển nhiên, và nhờ đó giúp chúng ta khai thác được lĩnh vực mới và bao trùm này. Học thuyết sau đây cho thấy những nỗ lực để đạt được kết quả này.

Học thuyết được chia thành 3 phần chính, mỗi phần sẽ đề cập đến 3 khía cạnh về thuyết thôi miên. Mỗi phần sẽ bắt đầu bằng những định nghĩa về các thuật ngữ, sau đó những giả thuyết chính và hệ quả sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho những mục này sau những chuẩn đoán từ những bài kiểm tra kỹ lưỡng. Có tổng thể 7 giả thuyết cấu thành nên hệ giả thuyết. Giả thuyết I-III đề cập đến khía cạnh thứ nhất, giới thiệu về thuật thôi miên, Giả thuyết thứ IV và V đề cập đến khía cạnh thứ hai, hiện tượng thôi miên. Giả thuyết thứ VI và thứ VII đề cập đến khía cạnh thứ ba, chẩn đoán sau thôi miên. Nguyên do chia học thuyết này thành 3 phần nhằm nhấn mạnh sự thật rằng khi một người cố gắng giải thích về thôi miên, anh ta buộc phải tiến hành nhiều bước hơn nữa để giải thích hiện tượng thôi miên. Anh ta cũng buộc phải giải thích trạng thái thôi miên được tạo ra như thế nào và liệu pháp thôi miên tạo ra những thay đổi về hành vi sau thôi miên như thế nào. Những học thuyết gần đây nhất thực chất chỉ đề cập được vấn đề hiện tượng thôi miên.

Lời giải thích toàn diện nhất được đề cập sẽ chủ yếu căn cứ vào những nguyên tắc luyện tập và sự ức chế được mô tả trong các định đề. Chỉ việc thử cắn vào ngón tay hay th́ thầm câu quan trọng vào tai một ai đó. Loại thôi miên tức th́ này lập tức sẽ diễn ra như kết quả của một chủ thể đang được thôi miên trước đó và được mang lại một chẩn đoán sau thôi miên sẽ được nhớ lại trong giấc ngủ thôi miên trong một trường hợp cho trước. Dạng tác nhân ức chế phát triển trong suốt thời gian kích thích ảo giác đă được điều kiện hoá đối với trường hợp này (xem phần dưới đây về giải pháp sau thôi miên) và nhờ đó đă được thức tỉnh khi được gợi ư.

Tuy nhiên loại giấc ngủ thôi miên nhanh chóng này cũng có thể diễn ra mà trước đó không cần nhà thôi miên tiến hành thôi miên trực tiếp với chủ thể. Điều này có thể diễn ra khi chủ thể nghe hoặc nh́n thầy những ảnh hưởng to lớn của các nhà thôi miên và họ tin vào điều đó. Bằng cảm giác, chủ thể này đă được thôi miên hoặc điều kiện hoá bằng cách nghe hoặc chứng kiến những phản ứng tích cực thu được nhờ các nhà thôi miên. (Vấn đề này sẽ được thảo luận sâu hơn trong mục tư cách bên dưới).

Tự thôi miên

Sự kích thích tự thôi miên được giải thích giống như sự kích thích thôi miên trên đây. Sự khác biệt duy nhất trong trường hợp này đó là chủ thể đóng vai tṛ vừa là nhà thôi miên vừa là chủ thể được thôi miên. Để đưa vào thuật ngữ của hệ điều kiện, sự khác biệt lớn duy nhất là trong h́nh thức tự thôi miên, tác nhân CS thuộc t́nh huống tác nhân dưới đây: “Chủ thể tự ḿnh tiến hành trong quá tŕnh kích thích thôi miên” hơn là “nhà thôi miên giúp chủ thể đạt được sự kích thích thôi miên”.

Cũng có một phương pháp tự thôi miên tức th́. Phương pháp này cũng được giải thích tương tự như dạng thôi miên tức th́ ban đầu ngoại trừ một vấn đề, chủ thể là người tự tiến hành thôi miên. Người ta cũng cho rằng trong trạng thái đó anh ta sẽ có thể tự tạo ra những hướng dẫn giống cách thôi miên tức th́, trong đó bao hàm cả cách tự thức tỉnh.

Giải thích về Sự kích thích ảo giác dựa trên 3 giả thuyết

Lời giải thích về sự kích thích ảo giác trên đây có thể được thể hiện súc tích hơn trong 3 giả thuyết chính dưới đây. Trong phần này chúng ta sẽ t́m ra những bằng chứng hỗ trợ chứng minh những giả thuyết này là đúng cũng như tiến hành những cuộc thí nghiệm sâu hơn. 

Giả thuyết I: Kích thích ảo giác là một quá tŕnh điều kiện

Hull và những cộng sự của ông đă đưa ra được một bằng chứng khá thuyết phục chứng minh giả thuyết này. Trong chương có tên “Thôi miên được xem như một thói quen”, Hull (1933) đă cho rằng nếu sự thôi miên có được là từ một quá tŕnh điều kiện, hoặc là một “biểu hiện của thói quen” khi ông muốn đề cập đến, nó sẽ cho thấy những đặc điểm riêng biệt giống như những biểu hiện của thói quen. (Chúng ta đang đưa ra một giả định rằng những thói quen chính là những dạng của phản ứng có điều kiện). Hull đă chỉ ra 6 đặc trưng phổ biến đó: (1) thói quen trong hoạt động làm đơn giản hoạt động sau nó; (2) mức độ thuận lợi trong hoạt động của thói quen nhanh hơn ở những phản ứng đầu tiên so với những phản ứng sảy ra sau; (3) Thời gian loại trừ xảy ra sau khi mất đi sự thuận lợi do hoạt động gây ra; (4) những phản ứng khác tương đương nhau, mất đi sự thuận lợi sau khi loại bỏ ít hơn ở những nơi khoảng cách giữa những lần lặp lại đầu tiên rộng hơn so với những khoảng cách ngắn; (5) sẽ phục hồi lại sự hoạt động, đường cong của hoạt động mới chỉ ra h́nh ảnh của gia tốc phủ định; và (6) mức độ giảm sau khi mất được phục hồi với ít hoạt động xảy ra so với yêu cầu đối với những ǵ thu được lần đầu.

Trong hai cuộc thử nghiệm do Kreuger tiến hành (1931), một trong những cộng sự của ông đă cho rằng kích thích ảo giác thực sự đă cho thấy những đặc điểm trên đây. 

Hull cũng đưa ra những bằng chứng chứng thực từ một loạt những thí nghiệm chứng minh rằng tâm trạng tỉnh táo (được cho rằng trong bài này thực tế giống như tâm trạng thôi miên) có “những ảnh hưởng thói quen so với những ảnh hưởng đặc trưng mà Kreuger đă chỉ ra trong quá tŕnh thôi miên.” (Hull, 1933 trang 343). Những thử nghiệm này được thực hiện bới Hull và Huse (1930), Williams (1930) và Patten, Switzer và Hull (1932).

Trong phần kết chương “Thôi miên được xem như thói quen”, Hull đă khẳng định:

“Phù hợp một cách chi tiết và đáng kể trong giấc ngủ nhân tạo kỳ lạ đối với những đặc điểm về hành vi thông thường trong thử nghiệm đă được biết đến rất khó để nói là t́nh cờ và vô nghĩa. Những chỉ dẫn dường như là dù giấc ngủ thôi miên là bất kỳ điều ǵ khác chăng nữa, ở quy mô lớn, ít nhất đó là đặc điểm của thói quen và rằng những giả thuyết này có thể tạo ra cơ sở cho một sự hiểu biết cơ bản cũng như lời giải thích về những đặc trưng gần như không thể giải thích của nó.” (Hull, 1993, trang 347).

Độc giả có thể thắc mắc về việc sử dụng bằng chứng của Hull trong việc chứng minh cho giả thuyết thứ nhất trên cơ sở giả thuyết sau đó liên quan đến điều kiện của “một dạng ức chế”, không phải là một phản ứng cụ thể như đă được đề cập trong định đề của Hull. Rơ ràng ở đây không có một sự nhất quán rơ ràng nào. Cũng như Harlov và Osgood, tác giả cho rằng “Cùng với mọi sự tăng trưởng theo xu hướng của thói quen kích thích ở cơ cấu của một phản ứng cho trước, cũng có một sự phát triển tương thích trong xu hướng thói quen ức chế được sinh ra với phản ứng tương phản trực tiếp” (Osgood, 1948, trang 150) và nhờ đó, cả hai phản ứng này đều có liên quan trực tiếp.

Giả định II: Phản ứng có điều kiện trong quá tŕnh kích thích ảo giác là một dạng ức chế có xu hướng ngăn chặn những tác nhân kích thích không tương thích với phản ứng mà nhà thôi miên gợi ư.

Tất nhiên giả định này được tạo ra với một quy mô lớn dựa trên Hệ quả 4 của các định đề cho rằng những phản ứng ức chế có thể được điều kiện hoá.

Có rất nhiều hệ quả rút ra từ giả định II; chúng ta sẽ xem xét đến 3 trong số những hệ quả này.

Hệ quả 1: Độ phản ứng đối với những tác nhân cạnh tranh sẽ giảm khi sự kích thích ảo giác diễn ra.

Đây sẽ là những ǵ mà chúng ta mong đợi nếu kích thích ảo giác bao gồm cả điều kiện của một dạng ức chế, và dẫn đến khi kích thích ảo giác diễn ra, dạng ức chế này sẽ tăng lên.

Những kết quả thu được từ cuộc thử nghiệm của Hermandez và những cộng sự (1960) dường như ủng hộ cho hệ quả này. Những nhà nghiên cứu này đă nhận ra rằng kích thích ảo giác được sinh ra khi mức độ co giăn của cơ tay giảm do kích thích xúc giác tạo nên. (Sự kích thích xúc giác có thể được xem như một tác nhân kích thích cạnh tranh). Thật lư thú khi ghi nhận những kết quả thu được:

 “Tất cả những bước tiến hành thôi miên đ̣i hỏi phải tập trung sự chú ư vào hành động thực hiện của người tiến hành với việc loại bỏ những tác nhân không phù hợp (tác nhân đối kháng). … Khi đang ở trạng thái thôi miên, ngưỡng nhận thức về những phương pháp khác dường như dễ giải thích hơn so với khả năng của thính giác tăng lên nhờ sự kích thích cảm giác ly tâm được yêu cầu ở những mức độ thấp hơn trong hệ thống thần kinh trung ương….

       “Những kết quả của chúng tôi phù hợp với những giả định được đề cập trên đây mặc dù đôi khi mức phản ứng bên ngoài dường như không thay đổi trong quá tŕnh tiến hành thôi miên ở hầu hết những thí nghiệm, mức độ giảm xuống nhiều hay ít tự nó sinh ra từ trạng thái thôi miên…

“ Những kết quả của chúng tôi nhất quán với những kết quả của Sears 91932), Dynes (1932), Doupe và cộng sự (1939) về việc gây mê nhờ liệu pháp thôi miên, những việc giảm những phản ứng sinh học không chủ động trước những sự tổn thương như kích thích thần kinh, hoạt động hô hấp, tim và mạch.” (trang 37 và 40)         

Hệ quả 2: Tăng cường phản ứng ức chế trong cặp CS ở mỗi lần thử nghiệm sẽ giúp đơn giản cho định đề điều kiện).

Hệ quả này sẽ giúp giải thích câu hỏi làm thế nào trạng thái ngủ có thể hỗ trợ cho sự kích thích ảo giác. Những trạng thái ngủ sẽ tạo ra một phản ứng ức chế bổ xung cùng với phản ứng được tạo ra từ phản ứng tích cực đối với phương thức này, điều đó sẽ tạo ra những phản ứng ức chế mạnh hơn với mỗi giải pháp.

Đặc điểm này cho rằng trạng thái mơ hồ có thể tạo ra những trạng thái giống như trạng thái được tạo ra khi ngủ.

TÓM TẮT
Thuyết thôi miên tổng quát chính là những nỗ lực nhằm giải thích 3 đặc điểm chính trong thuyết thôi miên dựa trên những nguyên tắc điều kiện và sự ức chế. (1) Phương pháp kích thích ảo giác được hiểu là nguyên tắc điều kiện sản sinh ra tác nhân gây ức chế. (2) Liệu pháp thôi miên (phản ứng phục hồi tăng) xảy ra do tác nhân này có thể hạn chế những tác nhân kích thích (gồm cả cảm giác và nhận thức) thông thường sẽ mâu thuẫn giải pháp đưa ra. (3) Những thay đổi về hành vi sau thôi miên được giải thích khi đang tiến hành thử nghiệm ở điều kiện cao hơn; điều kiện này được tác nhân gây ức chế hỗ trợ giúp hạn chế những tác nhân gây kích thích không phù hợp với điều kiện mới. Người ta cho rằng học thuyết này đủ mạnh để không những giải thích được về hiện tượng thôi miên và những giải pháp của nó, mà cả những lĩnh vực liên quan như thuyết phục, ảnh hưởng và niềm tin cho người bệnh, cũng như không đề cập đến triệu chứng mới của bệnh.

THUYẾT THÔI MIÊN: GIẢI THÍCH LIỆU PHÁP THÔI MIÊN, HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN VÀ CHẨN ĐOÁN SAU THÔI MIÊN

Tiến sĩ Alfred A. Barrios

Trung tâm tự kiểm soát bản thân, thành phố Culver bang Califonia.

Trong nhiều năm qua, có nhiều người quan tâm đến hiệu quả của liệu pháp thôi miên và nhu cầu sử dụng liệu pháp này đă tăng lên đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bất kể nhu cầu đó có cao đến đâu, dường như cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lư học vẫn tỏ ra không mấy hài ḷng với liệu pháp này. Tại sao lại như vậy?

Có ư kiến cho rằng lư do mà giN