THUYẾT THÔI MIÊN
TÓM TẮT
Thuyết thôi miên tổng quát chính là những nỗ lực nhằm giải thích 3 đặc điểm chính trong thuyết thôi miên dựa trên những nguyên tắc điều kiện và sự ức chế. (1) Phương pháp kích thích ảo giác được hiểu là nguyên tắc điều kiện sản sinh ra tác nhân gây ức chế. (2) Liệu pháp thôi miên (phản ứng phục hồi tăng) xảy ra do tác nhân này có thể hạn chế những tác nhân kích thích (gồm cả cảm giác và nhận thức) thông thường sẽ mâu thuẫn giải pháp đưa ra. (3) Những thay đổi về hành vi sau thôi miên được giải thích khi đang tiến hành thử nghiệm ở điều kiện cao hơn; điều kiện này được tác nhân gây ức chế hỗ trợ giúp hạn chế những tác nhân gây kích thích không phù hợp với điều kiện mới. Người ta cho rằng học thuyết này đủ mạnh để không những giải thích được về hiện tượng thôi miên và những giải pháp của nó, mà cả những lĩnh vực liên quan như thuyết phục, ảnh hưởng và niềm tin cho người bệnh, cũng như không đề cập đến triệu chứng mới của
bệnh.
THUYẾT THÔI MIÊN: GIẢI THÍCH LIỆU PHÁP THÔI MIÊN, HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN VÀ CHẨN ĐOÁN SAU THÔI MIÊN
Tiến sĩ Alfred A. Barrios
Trung tâm tự kiểm soát bản thân, thành phố Culver bang
Califonia.
Trong nhiều năm qua, có nhiều người quan tâm đến hiệu quả của liệu pháp thôi miên và nhu cầu sử dụng liệu pháp này đă tăng lên đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bất kể nhu cầu đó có cao đến đâu, dường như cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lư học vẫn tỏ ra không mấy hài ḷng với liệu pháp này. Tại sao lại như vậy?
Có ư kiến cho rằng lư do mà giới y khoa thời ơ với liệu pháp thôi miên không phải do nhu cầu không có thực hoặc quá cường điệu, tuy nhiên đó chính là v́ không thể ước lượng được số người tham gia vào liệu pháp này. Ẩn số này gây ra những nỗi sợ hăi (Phản ứng bản năng trước một điều bí ẩn), nhiều quan niệm sai lầm và rất nhiều lời chỉ trích không công bằng khiến người bệnh không dám hoặc tránh sử dụng liệu pháp này. Đến lúc đó, những ǵ chúng ta thực sự cần là một học thuyết hay một lời giải thích phù hợp về thuật thôi miên sẽ gắn kết nó với những bộ luật và thực tế hiển nhiên, và nhờ đó giúp chúng ta khai thác được lĩnh vực mới và bao trùm này. Học thuyết sau đây cho thấy những nỗ lực để đạt được kết quả này.
Học thuyết được chia thành 3 phần chính, mỗi phần sẽ đề cập đến 3 khía cạnh về thuyết thôi miên. Mỗi phần sẽ bắt đầu bằng những định nghĩa về các thuật ngữ, sau đó những giả thuyết chính và hệ quả sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho những mục này sau những chẩn đoán từ những bài kiểm tra kỹ lưỡng. Có tổng thể 7 giả thuyết cấu thành nên hệ giả thuyết. Giả thuyết I-III đề cập đến khía cạnh thứ nhất, giới thiệu về thuật thôi miên, Giả thuyết thứ IV và V đề cập đến khía cạnh thứ hai, hiện tượng thôi miên. Giả thuyết thứ VI và thứ VII đề cập đến khía cạnh thứ ba, chẩn đoán sau thôi miên. Nguyên do chia học thuyết này thành 3 phần nhằm nhấn mạnh sự thật rằng khi một người cố gắng giải thích về thôi miên, anh ta buộc phải tiến hành nhiều bước hơn nữa để giải thích hiện tượng thôi miên. Anh ta cũng buộc phải giải thích trạng thái thôi miên được tạo ra như thế nào và liệu pháp thôi miên tạo ra những thay đổi về hành vi sau thôi miên như thế nào. Những học thuyết gần đây nhất thực chất chỉ đề cập được vấn đề hiện tượng thôi miên.
Lời giải thích toàn diện nhất được đề cập sẽ chủ yếu căn cứ vào những nguyên tắc luyện tập và sự ức chế được mô tả trong các định đề. Về tổng quan, phương pháp kích thích thôi miên này được xem là điều kiện của tiền đề kiềm chế nhằm tăng tính chính xác cho giả thuyết bằng cách hạn chế những tác nhân kích thích và những suy nghĩ không phù hợp với đáp án giả định. Những hiện tượng thôi miên khác nhau bao gồm có hiện tượng chẩn đoán sau thôi miên sẽ được giải thích trong những thuật ngữ trong mục này.
Học thuyết được đề cập trong phần này là một phần trong luận văn tiến sĩ năm 1969 tại trường Đại Học California thuộc bang Los Angeles. Luận văn này một phần được hỗ trợ từ phía những đồng nghiệp trong Tổ chức Y Tế Cộng Đồng thuộc Viện Sức Khoẻ Thần Kinh Quốc Gia, Tổ chức Y tế Cộng Đồng.
NHỮNG ĐỊNH ĐỀ CƠ BẢN
Một trong những mục đích chủ yếu của bất kỳ học thuyết hay bài thuyết tŕnh nào đó là phải kết hợp chặt chẽ giữa những triệu chứng đă được giải thích với những quy tắc hiện hành. Có thể thực hiện điều này bằng cách trước tiên phải nhận diện được những quy tắc hiện hành và sau đó chứng minh được học thuyết này (hệ giả thuyết giải thích cho những hiện tượng) được rút ra từ những quy tắc đó như thế nào cũng như chứng minh nó phù hợp với những quy tắc này hay không. Dưới đây, chúng ta sẽ nhận biết được những quy tắc hiện hành (chính là những định đề) sẽ được kết hợp chặt chẽ với học thuyết thôi miên.
Khi một đọc giả xem qua những định đề này, anh ta nên nhớ rằng tại thời điểm này khoa học tâm lư vẫn chưa đạt được đến điểm mà chúng ta thực sự có thể nói về quy định trong khả năng của những quy tắc được chấp nhận và xây dựng kiên cố. V́ thế không ai có thể mong đợi việc anh ta sẽ hoàn toàn chấp nhận giá trị pháp lư của những định đề này. Tuy nhiên, người ta cho rằng bằng chứng thuyết phục sẽ được sử dụng nhằm chứng minh những định đề này là những t́nh huống hợp lư so với những quy định trước đây. V́ thế, nếu những giả thuyết của học thuyết hiện nay được kiểm chứng và thông qua, th́ giá trị pháp lư của những định đề này bản thân nó sẽ tự được phát triển hơn
nữa.
Định đề I. Sự ức chế tương hỗ
Khi một cơ chế đang tham gia vào hoặc phản ứng lại với một tác nhân kích thích, sẽ có sự ức chế tương hỗ do phản ứng và tác nhân kích thích không phù
hợp.
Sherrington (1906-1940) là một trong những người đầu tiên khám phá ra hiện tượng ức chế tương hỗ. Ông nhận thấy rằng những chuyển biến không phù hợp như đảo mắt từ trái sang phải được trung ương thần kinh kiểm soát chặt chẽ tới mức khi hoạt động của cơ tăng lên sẽ làm giảm đi hoạt động của cơ đối xứng nó. Loại ức chế tương tự cũng được phát hiện khi con người sao nhăng và tập trung, v́ khi tập trung vào một vật thể, bạn không thể tập trung vào một vật khác được”. (Woodworth và Schlosberg, 1954, trang 669).
Luận điểm mới đây được chứng minh qua công tŕnh của Hermandez-Peon (1959). Ông đă chứng minh được rằng khi một cơ chế hướng vào một tác nhân kích thích th́ tác nhân kích thích khác đang tác động đến nó sẽ bị hạn chế. Việc hạn chế những tác nhân hướng ly tâm đă chứng minh cho mọi loại cảm giác (Lindsley, 1961). Những loại tác nhân kích thích gần như có liên quan và phản ứng lại (và nhờ đó những loại tác nhân kích thích mới bị hạn chế) trong những t́nh huống cụ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: cường độ kích thích, sự đột biến của tác nhân kích thích, ư nghĩa cần thiết của tác nhân kích thích, đặc điểm cảm giác… (Berlyne, 1960). Một số loại tác nhân kích thích có đặc tính trội hơn những loại khác, và nhờ thế tạo ra được một “chuỗi tác nhân kích thích
trội”.
Hệ quả 1:
Nếu một tác nhân kích thích trội tự triệt tiêu hoặc loại bỏ, những tác nhân kích thích sau nó trong chuỗi đang tự khắc chế lẫn nhau đó lúc này sẽ phản ứng với nhau mạnh mẽ hơn.
Định đề II: Kích thích nhận thức
Hành vi được quyết định bởi tác nhân kích thích nhận thức cũng như tác nhân kích thích cảm giác.
Chúng ta biết rằng hành vi của một cơ chế trong một t́nh huống cụ thể có thể được quyết định bởi những loại hành vi bẩm sinh cụ thể. Một vết gai đâm sẽ gây cảm giác đâu đớn (nỗi đâu từ những chỗ bị thương, khóc lóc, phiền năo, đổ mồ hôi ḷng bàn tay…); cho chút muối trên đầu lưỡi sẽ gây chảy nước miếng; kích thích cơ quan sinh dục sẽ tạo ra nhiều loại phản ứng sinh lư khác nhau… Những tác nhân kích thích đó dường như đă tạo ra “sự liên kết” hay những loại hành vi bẩm sinh. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng những cơ chế không phải luôn luôn có những phản ứng tương tự nhau trước những tác nhân kích thích giống nhau. Học hỏi và điều trị bệnh có thể và đang đóng một vai tṛ hết sức quan trọng, đặc biệt đối với con người trong việc thay đổi hành vi. Ví dụ, phản ứng do kích thích bộ phận sinh dục gây ra có sự khác nhau giữa người này với người khác là điều tất yếu hoặc do sự trải nghiệm của người này, hoặc do bệnh tật của người khác. Nếu một người được dạy rằng t́nh dục là cái ǵ đó bẩn thỉu và tồi tệ, th́ anh ta sẽ dễ dàng có phản ứng với cảm giác kinh tởm và tội lỗi hơn so với phản ứng trong quan hệ t́nh dục thông thường (“sự gắn kết”). V́ thế chúng ta có thể nói rằng tác nhân kích thích cũng có thể gắn kết những loại hành vi được “học” và được “yêu cầu”.
Một cách tạo ư tưởng thay đổi hành vi bằng việc học tập là phải xem cơ chế như đang phản ứng lại không chỉ đối với sự kích thích cảm giác mà c̣n đối với những ǵ có trong trí nhớ, đă được ghi nhận hay tác nhân kích thích về nhận thức. Một tác nhân kích thích cảm giác được định nghĩa như một tác nhân đang tiếp cận đến cơ chế thông qua cảm giác. Một tác nhân kích thích nhận thức ở đây có thể hiểu là một tác nhân kích thích xuất phát từ tiềm thức (những dấu tích cụ thể hoặc ghi nhận lại những trải nghiệm trong năo bộ). Việc tác nhân kích thích này có khả năng tiềm tàng trong việc h́nh thành và điều khiển hành vi như bất kỳ một tác nhân kích thích cảm giác nào đă trở thành một định đề. Ví dụ, điều đó có nghĩa là tổ hợp những tác nhân kích thích di truyền trội có thể được tạo ra bằng cả hai tác nhân kích thích về cảm giác và thần
kinh.
Người ta cho rằng những suy nghĩ trong tiềm thức này được h́nh thành thông qua một quá tŕnh biến đổi (xem Định đề III bên dưới) và được tạo ra nhờ một tác nhân kích thích có điều kiện. Tác nhân kích thích có điều kiện này vừa là tác nhân kích thích cảm giác, vừa là tác nhân kích thích về nhận thức. Ví dụ, suy nghĩ về mùi một miếng thịt nướng (tác nhân kích thích nhận thức) có thể gắn với việc ngửi thấy mùi của miếng thịt đang nướng (tác nhân kích thích cảm giác) hoặc suy nghĩ về một nhà hàng cụ thể nào đó chuyên bán thịt nướng (Kích thích về nhận
thức).
Dưới chiều hướng của tác nhân kích thích về nhận thức chúng ta có thể nhận ra những điều này như những suy nghĩ, h́nh ảnh, niềm tin, chiều hướng, giá trị, quan điểm, ư tưởng… Một tác nhân kích thích nhận thức có thể được đánh giá tương đương với “hành động tác nhân kích thích trong lành” của Hull (1933), “Trạng thái mong đợi” của Tolman (1932), “Cơ chế tượng trưng” của Osgood…
Lư do sử dụng thuật ngữ “Kích thích nhận thức” chứ không sử dụng những thuật ngữ như “Trạng thái mong đợi”, “suy nghĩ” hay “nhận thức” đó là sự bao hàm của thuật ngữ “tác nhân kích thích” có hàm ư sâu xa hơn rất nhiều. Trước đây, những nhà lư luận về nhận thức đă không ngừng chỉ trích việc bỏ ngỏ những thuật ngữ này.
Chứng minh cho luận điểm cho rằng những kư ức ghi lại trước đây được dự trữ trong năo bộ ít nhất bắt nguồn từ 2 nguyên nhân. Thứ nhât, công tŕnh nghiên cứu của Penfied (1954) đă cho rằng việc kích thích bằng điện vào năo thái dương của con người gây ra chủ thể ảnh hưởng đến h́nh tượng mạnh tới mức khó có thể nhận diện chúng chính xác được. Những ảo giác này chính là những h́nh ảnh ảo từ những kinh nghiệm thực tiễn đă từng trải qua trong quá khứ hoặc hiện tại. (“Cả những kỷ niệm xưa cũ và hiện tại đều dễ dàng khơi lại.”)
“Nh́n chung, những kư ức do kích thích tạo ra dường rơ ràng như chúng là thế hệ thứ hai sau chủ thể. Trên thực tế, dường như những kư ức này cũng rơ ràng như lúc diễn ra. Đây là phần khá quan trọng v́ hành động đang diễn ra và bệnh nhân là người thực hiện. Dường như anh ta có thể nghe, nh́n và phản ứng nữa”. (Trang 99)
Công tŕnh nghiên cứu của Penfield liên quan chặt chẽ với những báo cáo bệnh án mà trong đó, những khối u năo tại vỏ thái dương cũng có thể gây ra những ảo giác phức hợp và rắc rối (Weinberger và Grant, 1940). Người ta cho rằng kích thích khối u và kích thích điện cả hai đều gây ra tiềm thức nhưng ngược lại, tiềm thức đó lại dẫn đến ảo giác.
Nguyên nhân thứ 2 hỗ trợ sự tồn tại của những tiềm thức được sử dụng trong công tŕnh nghiên cứu gần đây chứng minh sự tồn tạ của RNA trong quy tŕnh lưu lại trí nhớ. Những nghiên cứu được tóm lược trong nhiều bài báo và trang sách gần đây (Như Brazier 1964; Landauer 1964; Gaito và Zavala 1964; Jocobson 1966 đă cho rằng những ǵ đă trải qua trước đây được ghi lại trong năo bộ bằng cách tái cơ cấu phân tử RNA. Ví dụ, theo Landauer (1964) khi hai tác nhân kích thích có tên CS và US xoắn lại, phân tử RNA đại diện cho CS xâm nhập vào tế bào năo do US phóng ra. Kết quả của việc kết hợp phân tử RNA mới đại diện cho CS đă biến đổi tế bào nhận hay những tế bào US để kích thích chúng bằng cơ chế điện từ lan rộng do CS phát ra. V́ thế, những tiềm thức mà chúng ta đang nói đến có thể được xem là những phân tử RNA được sắp xếp lại đă xâm nhập vào những tế bào thần kinh thường do US phát ra. Một tác nhân kích thích nhận thức là sự kích thích do những tế bào US được biến đổi truyền ra từ sự kích thích do tế bào CS gây
ra.
Một liên kết cực kỳ quan trọng từ khái niệm tiềm thức trên đây đó là tất cả những kinh nghiệm đă được ghi nhớ đều không tránh khỏi việc “tái cơ cấu” nếu nhớ lại một kư ức nào đó phù hợp. Mất hay quên đi kư ức được giải thích bằng thuật ngữ hoặc một giả thuyết giao thoa rằng “tái cơ cấu” không thể diễn ra nếu một số tác nhân kích thích trội gây ra phản ứng không phù hợp với phản ứng do CS tạo ra. Nếu những phản ứng cạnh tranh được xoá bỏ, kư ức tương tự sẽ được hồi sinh (tác nhân kích thích nhận thức có thể được sinh ra)
Định đề III. Điều kiện
Nếu một cơ chế tham gia vào hai tác nhân kích thích trong sự tiếp giáp gần th́ hai tác nhân kích thích này sẽ kết hợp lại với nhau đến mức khi diễn ra sự biến đổi sau của tác nhân kích thích thứ nhất, phản ứng đối với tác nhân thứ 2 sẽ diễn
ra.
Về cơ bản, định đề này là cách hiểu về điều kiện trong “Mối tương quan S-S” với điều kiện bổ xung rằng cơ chế phải liên quan được hoặc tham gia vào hai tác nhân kích thích này. Ư thức và tham gia hơn nữa gần đây đă được chỉ ra là cần thiết từ nhiều cuộc khảo sát nghiên cứu như: Gurthrie (1959); Speilberger (1962); Dulany (1962); Maltzman (1966) và Trabasso và Bower (1968). Do đó, theo định đề này, (1) mối liên tưởng giữa những tác nhân kích thích mà không phải duy nhất một và phản ứng cần có nhờ phương pháp S-R; và (2) sự liên tưởng giữa những tác nhân tham gia chính là điều kiện cần và đủ theo quy định để thực hiện và không có ư định hoặc không cần phải giảm xuống theo yêu cầu trong phương pháp “Luật Nhân Quả”. Theo quan điểm của nhiều tác giả, bằng chứng này cho thấy rằng đây là những đặc điểm nhỏ nhặt và bao hàm hơn trong ba điểm có hệ thống chính trội hơn trong tâm lư học này (cụ thể là, mối tương quan S-S, Mối tương quan S-R và những phương pháp Nhân quả S-R).
Như đă nói, phương pháp liên tưởng S-S cho cho biết rằng phản ứng đầu tiên diễn ra giữa những tác nhân kích thích chứ không phải giữa một tác nhân kích thích với một phản ứng. Tất nhiên điều đó không có nghĩa một tác nhân kích thích không thể liên kết được với một phản ứng. Vị trí của S-S sẽ giải thích cấu trúc giữa tác nhân kích, S1 và phản ứng, R2 bằng cách chỉ ra rằng cấu trúc này diễn ra giữa S1 và S2 trong khi S2 là tác nhân kích thích thường tạo ra R2. Dường như vị trí của cấu trúc S-S rộng răi hơn cấu trúc S-R nghiêm ngặt v́ cũng như đang giải thích cấu trúc giữa những tác nhân kích thích và những phản ứng, nó cũng có thể giải thích sự h́nh thành những cấu trúc giữa các tác nhân mà không hề có một phản ứng hữu h́nh nào trong đó. (Theo chúng tôi, một trong những yếu điểm hay vị trí cấu trúc S-R là việc sẽ khó khăn hơn rất nhiều đối với các nhà lư luận khi nghĩ đến hiện tượng băo hoà đang diễn ra mà không hề có một phản ứng hữu h́nh nào). Bằng chứng này hỗ trợ ư tưởng từ nhiều nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau cho rằng những cấu trúc có thể diễn ra giữa những tác nhân kích thích mà không cần phản ứng. Những nghiên cứu đó bao gồm (1) phản ứng tiền dung hoà cảm giác, (2) nghiên cứu giác quan, và (3) nghiên cứu không cần phản ứng. Một quan điểm bao trùm trong những nghiên cứu này có thể t́m thấy trong cuốn Kimble (1961).
Ngoài việc nói rằng những quần hợp này diễn ra giữa những tác nhân kích thích, Định đề III khẳng định mối tiếp giáp giữa những tác nhân kích thích trong trọng tâm vấn đề chính là điều kiện cần và đủ để quần hợp diễn ra. Điều này trái ngược với vị trí của mối liên kết “Hiệu quả” mà cho rằng ngoài liên kết, một số mô h́nh định hướng hay cần được liên kết là điều kiện cần để quần hợp diễn ra. Mặc dù không ai có thể phủ nhận nguyên phân và giản phân giúp quá tŕnh băo hoà đáng kể, tuy nhiên có một bằng chứng chỉ ra rằng băo hoà vẫn có thể diễn ra mà không cần đến quá tŕnh giản phâm.
Bằng chứng chống lại vị trí “Hiệu ứng” xuất phát từ một số chương tŕnh nghiên cứu (Cũng được đề cập trong cuốn Kimble, 1961), bao gồm có (1) Những chương tŕnh nghiên cứu phục hồi tiềm tàng, (2) Những chương tŕnh nghiên cứu về đường, (3) Những nghiên cứu khám phá và (4) Những nghiên cứu kích thích năo bộ bên cạnh tiền băo hoà cảm giác và những nghiên cứu về trực giác đă được đề cập.
Hệ quả 2:
Bất kỳ chất nào làm tăng khả năng khích của các chất kích thích ghép cặp trong chuỗi tác nhân kích thích trội sẽ giúp quá tŕnh băo hoà diễn ra đơn
giản.
Hệ quả này xuất phát từ định đề v́ vế sau khẳng định rằng tác nhân CS và US phải là trọng tâm được ghép cặp. Nếu có sự xuất hiện của tác nhân kích thích trội hơn khác, điều kiện này sẽ không được đáp ứng. V́ thế, bất kỳ tác nhân nào hạn chế sự cạnh tranh giữa các tác nhân kích thích đều giúp cho quá tŕnh băo hoà.
Hệ quả 3:
Những từ ngữ có thể đóng vai tṛ như những tác nhân kích thích có điều kiện có khả năng tạo ra những tác nhân kích thích tri giác gián tiếp tạo ra những phản ứng tương tự như những phản ứng được tạo ra từ những tác nhân kích thích vô điều kiện đầu tiên.
Pavlov là một trong những người đầu tiên phát hiện ra rằng ngôn từ có thể đóng vai tṛ như những tác nhân kích thích có điều kiện.
"Rơ ràng ngôn ngữ của loài người tạo ra những tác nhân kích thích có điều kiện có giá trị tương đương như những tác nhân khác… Bởi v́ toàn bộ cuộc sống của một người trưởng thành trước đây, ngôn ngữ liên kết với tất cả những tác nhân kích thích bên trong và bên ngoài và truyền lên vỏ năo, dịch chuyển tất cả và thay thế tất cả những tác nhân kích thích đó, và nhờ đó nó có thể tạo ra mọi phản ứng của cơ chế thông thường do chính bản thân tác nhân kích thích thực đó quyết định.” (Pavlov, 1960, trang 407).
Việc những ngôn từ này có thể đóng vai tṛ như những tác nhân kích thích có điều kiện đă được kiểm định qua nhiều cuộc thí nghiệm. Giống như Platinov (1959) đă chỉ ra, Vasileyva nhận ra rằng ông có thể đặt điều kiện cho một hệ thống cảnh báo mắt cắp xe bằng chuông. Hudgins (1933) có thể yêu cầu học sinh trong khoá học của ḿnh tập trung vào hợp đồng khi nghĩ đến từ “hợp đồng”. Menzines (1941), bằng việc gắn kết từ "những nỗi khổ” với việc nhúng đôi bàn tay vào nước lạnh có thể sử dụng những đề tài này đến mức khi họ nói ra từ “những nỗi khổ”, nhiệt độ trong bàn tay đă giảm đáng kể. Quan điểm này cũng đồng nhất với quan điểm của Hull:
Trong những cuộc thử nghiệm khoa học ngôn từ của những người tham gia thử nghiệm có lẽ ít khi thực hiện chức năng như về âm thanh và nhiệt độ thông thường… (Tác nhân kích thích có điều kiện) trong những cuộc thử nghiệm phản ứng có điều kiện.” (Hull.1993 trang 280)
Một điểm thú vị cần phải cân nhắc đó là những hiệu ứng gia tăng của những tế bào giảm nguyên (như thức ăn và t́nh dục) có thể tự được đặt dưới một lời giải thích của sự gia tăng kích thích này. Đây là trường hợp nếu chúng ta xem xét khả năng đó là sự kích thích mở gây ra của quá tŕnh giảm phân mà bản thân nó đóng vai tṛ quan trọng trong việc tăng lên hơn là mức độ lan tràn. Điều này dường như rất trùng hợp với luận điểm được nhắc đến trong bài viết về điều kiện giảm phân trong cuốn ''Drive Induction” của Sheffield (1966) và ''Go-Mechanism” của Miller (1963). Lư do hầu hết những tác nhân giảm phân trở nên hiệu quả như thế có thể là do chúng là những tác nhân kích thích mà nhờ những giá trị gợi lên cao của chúng sẽ được đưa vào những vị trí cao hơn trong hệ thống cấp bậc của những tác nhân kích thích trội, cũng như đặt bất kỳ một tác nhân kích thích nào gắn kết chặt chẽ trong hệ tác nhân này.
Việc những ngôn ngữ có thể tạo ra những phản ứng tương tự như những phản ứng sinh ra từ những chất kích thích vô điều kiện được thay thế cũng nhận được nhiều sự đồng thuận từ những nghiên cứu khác nhau. Ví dụ trong những nghiên cứu như của Schultz (1950), Vandell, David và Uugston (1943), Max (1937) và Jacobson (1938) đă chứng minh rơ ràng tới mức suy nghĩ có thể giúp làm tăng những mô h́nh hoạt động và căng cơ cụ thể đặc trưng trong những câu hỏi thường trực trong suy nghĩ.” (Weitzenhoffer, 1953 trang 246). Cũng đă có rất nhiều cuộc thử nghiệm đă cho thấy nhiều phản ứng tri giác và sinh lư được sinh ra bằng cách đi bộ. Những phản ứng này được tóm tắt cụ thể trong hai bài đánh giá của Barber về những hiệu quả của sinh lư học (1961, 1965). Trong những phản ứng sinh ra sau thôi miên mà ông báo cáo, chúng tôi đă nhận ra được nhiều vấn đề như nhịp đập nhanh chậm của tim, mù màu, điếc, những thay đổi bên trong, bài tiết nước bọt, chứng mất cảm giác đau, và các chứng dị ứng. (Ví dụ, nhịp tim tăng có thể do ngôn từ kết hợp với những tác nhân kích thích gây sợ hăi tạo ra; chẳng hạn gợi ra một vài điều ǵ đó đáng sợ.)
Hệ quả 4:
Một phản ứng ức chế tương hỗ có thể được áp dụng tương tự như bất kỳ một phản ứng nào khác nếu phản ứng đó không ngừng xuất hiện với những tác nhân kích thích có điều kiện.
Điều trước tiên chúng ta biết rằng một phản ứng ngăn chặn chỉ có thể được áp dụng giống như bất kỳ một phản ứng nào khác. Ví dụ, Pavlov (1960), đề cập đến những chương tŕnh thử nghiệm tại pḥng thí nghiệm của ông được Volborth thực hiện đă kết luận rằng “nếu một tác nhân kích thích ngăn chặn được áp dụng đồng thời và lập đi lập lại trong những khoảng thời gian ngắn cùng với một số tác nhân kích thích vô tính th́ tác nhân này cũng sẽ phát triển một chức năng ngăn ngừa của riêng nó” (Trang 106 và 404).
Căn cứ theo định đề I chúng ta cũng thấy rằng khi một cơ chế đang phản ứng với một tác nhân kích thích th́ sẽ diễn ra một sự ức chế tương hỗ của bất kỳ một tác nhân kích thích nào dẫn đến những phản ứng không tương thích. Trường hợp đồng thuận với suy nghĩ cho rằng loại phản ứng ngăn ngừa này có thể được áp dụng đă được Wolpe tường thuật rất xúc tích (1958) trong cuốn sách của ông có tên Tâm lư liệu pháp nhờ Sự ức chế tương hỗ. Ví dụ trong nhiều cuộc thử nghiệm, ông chỉ đề cập đến cuộc thử nghiệm do Pavlov thực hiện với một ḍng điện mạnh được sinh ra trong tác nhân kích thích có điều kiện ở phản ứng cho ăn ở chó:
“Ḍng điện dần tăng lên đúng thời điểm cho đến khi nó cực mạnh, tuy nhiên sau đó không hề có một phản ứng tự vệ nào diễn ra. Nói một cách khác, những thói quen thông thường liên quan đến tác nhân kích thích điện với phản ứng tự vệ đă được ngăn chặn. Dường như là trong mỗi phần của cuộc thử nghiệm, hoạt động của phản ứng ăn gồm sự ức chế tương hỗ của phản ứng tự vệ được đánh thức nhờ tác nhân kích thích ḍng điện. Sau nhiều lần lặp lại quy tŕnh này, trong quá tŕnh ḍng điện tăng dần, mức độ ngăn chặn có điều kiện của phản ứng tự vệ được thiết lập lớn tới mức thậm chí những tác nhân kích thích điện rất mạnh không thể tạo ra được phản ứng đó nhưng chỉ có thể tạo ra được phản ứng ăn.” (Wolpe, 1958 trang 30).
Một điều quan trọng cần nhắc đến ở đây đó là trong điều kiện phản ứng ăn, phản ứng ức chế-sự ức chế của phản ứng tự vệ đang đồng thời được sử
dụng.
Wolpe cũng trích dẫn bằng chứng từ những cuộc thử nghiệm trước đây được tiến hành trên mèo, nhờ đó trải qua những phản ứng thần kinh bằng cách hạn chế những phản ứng ăn uống của chúng. Bằng chứng này có thể bổ xung cho những thử nghiệm “Peter và Rabbit” của Watson, ở đó sự sợ hăi của những con thỏ giảm dần bằng cách bắt thỏ con ăn thịt thỏ trong nỗi sợ hăi của những con thỏ khác. (Watson, 1957 Trang 172 đến 175). Nh́n chung quan điểm của Wolpe nhận được sự đồng thuận ít nhất từ một một học thuyết đang nghiên cứu. Osgood cho rằng những ǵ ông đề cập đến như "một giả thuyết của sự ức chế tương hỗ trong những phản ứng đối lập" đă nói lên rằng diễn ra đồng thời với sự lớn mạnh trong xu hướng kích thích trong quần hợp của một tác nhân kích thích đă cho với một phản ứng cho trước, cũng đă sản sinh ra sự phát triển trong xu hướng kích thích ở quần hợp của một tác nhân kích thích tương tự với một phản ứng trái ngược trực tiếp. Nói cách khác, xảy ra đồng thời với việc nghiên cứu bất kỳ một phản ứng nào, tác nhân S cũng không được nghiên cứu để tạo ra một phản ứng trái ngược trực tiếp. (Osgood 1948, trang 150)
Hệ quả 5:
Nếu nhóm tác nhân cản trở những tác nhân kích thích cụ thể được áp dụng đối với tác nhân CS cho trước th́ sự có mặt của CS này sẽ giúp đỡ h́nh thành bất kỳ một phản ứng nào thường bị những tác nhân kích thích này can
thiệp.
Hệ quả này được rút ra từ hai định đề I và III. Có sự hỗ trợ thường xuyên nhờ công tŕnh nghiên cứu của Harlow khi nghiên cứu về những tác nhân kích thích và lư thuyết về nguyên nhân độ sai lệch (Koch, 1959). Trong một loạt những chương tŕnh thí nghiệm ông đă chỉ ra rằng khi đưa ra cho những con khỉ một loạt những vấn đề mang tính nhận thức để học th́ từng bước sẽ h́nh thành khái niệm học giúp tạo ra những phản ứng về nhận thức mới và khác nhau. (Tác nhân CS được đề cập trong định đề và trong trường hợp này là bất bất kỳ một tác nhân hay nhiều tác nhân kích thích xuất hiện từ vấn đề này đến vấn đề khác như sự có mặt của bản thân người thí
nghiệm).
Harlow giải thích điều kiện thuận lợi này dựa vào sự ức chế có điều kiện được nghiên cứu. Ông đă đưa ra những giả thuyết tương tự như Wolpe khi cho rằng nghiên cứu tạo ra một phản ứng cụ thể th́ cơ chế sẽ nghiên cứu để hạn chế tất cả những tác nhân kích thích không phù hợp hoặc gây phức tạp, hay những ǵ ông gọi là những nhân tố gây ra độ sai lệch (EF). Trên thực tế, ông đă đi quá xa khi nói rằng “nghiên cứu không là ǵ ngoài mục đích ngăn ngừa và hạn chế tác nhân gây ra độ sai lệch” (Koch, 1959 trang 526). Harlow nhận thấy rằng khi loài khỉ buộc phải tạo ra một phản ứng mang tính nhận thức mới, sự ức chế của EF được nghiên cứu này hỗ trợ cho quá tŕnh tạo ra một phản ứng mới được dễ dàng hơn. Điều này là do nhiều trong số những tác nhân gây độ sai lệch được hạn chế khi nghiên cứu những vấn đề trước đây là những tác nhân gây phức tạp tiềm năng trong những phản ứng mới này.
Cũng với sự đồng thuận trong Hệ quả 5 là một sự thật (như Harlow đă chứng minh) rằng trong hầu hết những cuộc thử nghiệm nghiên cứu, người tiến hành nghiên cứu đă nhận ra rằng việc áp dụng những con vật của ông vào những t́nh huống thực nghiệm trước khi bắt đầu nghiên cứu là rất có lợi. “… Các nhà tâm lư học đang thực hiện điều này nhiều thế kỷ nay, ví dụ, đặt những con chuột trên một đường thẳng trước khi cho chúng trải qua một trạng thái lẫn lộn đan xen, bằng cách ấy rơ ràng sẽ làm giảm những tác nhân gây ra độ sai lệch trước khi “nghiên cứu t́nh huống” (Koch, 1959, trang 526). Quy tŕnh thử nghiệm này có thể tạo ra cơ sở của sự ức chế có điều kiện trong những phản ứng không tương thích. Sự ức chế có điều kiện này được sản sinh trong t́nh huống nghiên cứu nhờ những tác nhân kích thích được áp dụng phổ biến trong những cuộc thử nghiệm thực nghiệm và thử nghiệm nghiên cứu.
GIẢI THÍCH VỀ HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN
Nỗ lực được tạo ra dưới đây nhằm giải thích hiện tượng kích thích thôi miên dựa trên những quy tắc điều kiện và sự ức chế đă được nhắc đến trong những định đề trên đây. Người ta sẽ chứng minh được cách cảm ứng thôi miên có thể được giải thích như điều kiện của một dạng ức chế-dạng có khả năng làm tăng phản ứng đối với sự ám thị bằng những tác nhân kích thích ức chế ( cảm giác và nhận thức) không phù hợp với sự ám thị. Lời giải thích này sẽ được thể hiện súc tích thành 3 giả thuyết và bằng chứng để hỗ trợ cho những giả thuyết này. Cuối cùng, một số tác nhân cá nhân lớn có thể ảnh hưởng đến sự kích thích thôi miên như uy tín, mong đợi, nỗi sợ hăi và tuổi tác đă được thảo luận và những vai tṛ của chúng được giải thích bằng những thuật ngữ của học
thuyết.
Bước đầu tiên trong việc giải thích sẽ phải định nghĩa những thuật ngữ được sử dụng, sau đó sẽ cố gắng đưa nhân tố kích thích thôi miên vào trong một mô h́nh điều
kiện.
Những định nghĩa
Sự ám thị
Định nghĩa về sự ám thị trong quyển từ điển của Warren (1934) như sau: “Sự ám thị là một tác nhân, về bản chất xuất phát từ động từ mà thông qua đó, tác nhân này sẽ t́m cách khơi dậy hoạt động của những tác nhân khác bằng cách phá vỡ những chức năng mang tính hệ thống và then chốt” (trang 267). Dưới đây là định nghĩa về sự ám thị của McDougall (1908 trang 100): “Sự ám thị là một quá tŕnh tạo sự đồng thuận với sức thuyết phục từ những gợi ư được liên kết trong khi thiếu những cơ sở tương thích hợp lư cho sự đồng thuận này.” Hull đă định nghĩa sự ám thị như sau: “…Một phản ứng ám thị thực sự là phản ứng mà ở đó quá tŕnh tượng trưng riêng của chủ thể, thay cho việc tích cực trong cả việc hỗ trợ hoặc chống lại xu hướng hoạt động theo bản năng xuất phát từ ngôn từ của các nhà tiến hành thực nghiệm, vẫn quá bị động đến mức hành động được hướng dẫn cụ thể cũng có liên quan.” (Hull, 1933 trang 307)
Lindzey, (1954 Trang 27), tóm tắt nhiều định nghĩa về sự ám thị đă phát biểu như
sau:
“Trong những định nghĩa này và những định nghĩa tương tự, sự quan tâm tập trung vào một số sự hạn chế tuỳ ư trong những yếu tố hành vi. Cá nhân không tận dụng tất cả những ư tưởng tương đương, cũng không phải tất cả trí tuệ của người đó. Rơ ràng sự ám thị xuất phát từ những nguyên tắc cơ cấu (điều kiện), chúng ta vẫn phải bao gồm cả dạng cơ cấu thông thường đến mức kết quả cuối cùng của hành vi là do một loại được lựa chọn trong số những yếu tố quyết định.”
Định nghĩa ám thị đang sử dụng ngày nay được viết như
sau:
Một sự ám thị là một tác nhân kích thích hoặc một dạng tác nhân kích thích, có nguồn gốc từ động từ mà qua đó một tác nhân kích thích (1) sản sinh ra một tác nhân kích thích nhận thức khác, và (2) cùng lúc sản sinh ra một loại tác nhân kích thích ức chế có xu hướng hạn chế tác nhân kích thích (cảm giác và nhận thức) không tương thích với tác nhân kích thích được sinh ra3.
Sự khác biệt lớn duy nhất giữa định nghĩa này và những định nghĩa trước đây đă từng được đề cập là sự bố trí xen kẽ- rằng những tác nhân cảm giác cũng như những tác nhân về nhận thức có xu hướng bị ức chế do phản ứng ức chế tạo ra. Tất cả những định nghĩa trên đây dường như nhấn mạnh vào sự hạn chế của những tác nhân kích thích nhận thức mà không đề cập đến sự hạn chế của những tác nhân kích thích cảm giác.
Cần phải nhấn mạnh rằng cả hai giải pháp thôi miên và ám thị thức đều có chung một thành phần cấu tạo là sự ức chế. Sự khác biệt duy nhất giữa hai giải pháp này là với một loại cho trước, loại thứ nhất sẽ có thành phần tạo nên sự ức chế lớn hơn như kết quả từ liệu pháp thôi miên. Từ một cá nhân này đến cá nhân khác, cường độ ức chế ở h́nh thức ám thị thức là rất khác nhau v́ nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể, ví dụ như uy tín (những yếu tố này sẽ được đề cập ở phần sau). Điều đó có nghĩa rằng đối với mỗi giải pháp thôi miên cụ thể, độ phản ứng có thể lớn hơn đối với người đang trong trạng thái thức hơn là đối với người đang trong trạng thái được thôi miên.
Trạng thái vô thức
Trạng thái vô thức được
định nghĩa là tâm trạng mà
ở đó tác nhân kích thích
nhận thức được sinh ra
từ sự ám thị phản
ứng lại mạnh và nhanh hơn
b́nh thường bởi v́ những
tác nhân cạnh tranh thông thường
đă được giảm
thiểu hoặc hạn chế.
(Phản ứng thông thường
đối với sự ám thị có
thể được quyết định
trước đối với
mỗi cá nhân)
Tất nhiên, có nhiều cách khác
chứ không chỉ ḿnh liệu pháp
thôi miên để có được
một trạng thái vô thức. Ví
dụ, người ta biết
rằng mất cảm giác dẫn
đến một tâm trạng như
vậy (Jackson và Pollard, 1962; Jackson và
Kelly, 1962; Pollard, 1962; Jackson và Kelly,
1962; Pollard, Uhr và Jackson, 1963). Những
loại thuốc gây ảo giác (ví
dụ LSD và thuốc gây ảo giác
ancaloit) hoạt động như
những chất ức chế cũng
được biết có khả năng
gây ra trạng thái vô thức (Barrios,
1965; Sjobert, 1965; Solursh và Rae năm
1966).
Thôi miên
Thôi miên được định nghĩa là một trạng thái vô thức có được nhờ sự kích thích ảo giác.3 Cần phải nhấn mạnh rằng chỉ riêng sự khơi dậy những tác nhân nhận thức sẽ tạo ra nhiều sự ức chế riêng biệt về sự cạnh tranh trong những tác nhân kích thích giống như sự khơi dậy của bất kỳ một tác nhân kích thích nào. Tuy nhiên, trong một phương pháp nào đó chúng ta sẽ nhận ra một sự hỗ trợ hạn chế bổ xung trong hoạt động ức chế.
Đó là một trạng thái vô thức (ví dụ dễ dàng gợi ư hơn b́nh thường) bởi v́ khi một sự gợi mở được đưa ra, một phần của hoạt động ức chế trong sự gợi mở ở mỗi cá nhân sẽ lớn hơn về phạm vi tồn tại trong trạng thái thông thường.
Sự kích thích ảo giác được định nghĩa là sự đưa ra hai hay nhiều giải pháp một cách lần lượt để một phản ứng tích cực đối với phản ứng khác làm tăng khả năng phản ứng đối với cái xảy ra sau đó
Việc không phải ḿnh tác giả có những cảm giác cho rằng phản ứng tích cực đối với một loạt những giải pháp hay những nhận định sẽ dẫn đến trạng thái thôi miên đă được dẫn chứng bằng những phát biểu sau đây của tiến sĩ Skinner (1957):
“Với mỗi một người nói cụ thể, hành vi của người nghe cũng là chức năng của những ǵ được gọi là niềm tin (một mô h́nh tương tự như mô h́nh gợi). ...Niềm tin của chúng ta vào những ǵ ai đó nói với chúng ta là một chức năng tương tự hoặc giống nhau trong xu hướng làm theo những ǵ mà họ nói. Nếu chúng ta luôn thành công khi phản ứng lại hành vi ngôn từ của họ, niềm tin của chúng ta sẽ tăng lên rất nhiều.... (trang 159-160)
“Người nghe sẽ phản ứng với hành vi của một người nói ở mức độ được quyết định từ những ảnh hưởng có trước. Người nói có thể gây dựng được niềm tin hay sự tự tin bằng cách đề cập đến nhiều điều thực sự đáng tin tưởng hoặc nhanh chóng được xác nhận, hoặc sử dụng đến những thiết bị hỗ trợ...(trang 365)
“Nhiều thiết bị được sử dụng một cách chuyên nghiệp nhằm tăng niềm tin cho người nghe (ví dụ như thực tiễn hoặc học thuyết) có thể được phân tích theo những thuật ngữ này. Các nhà trị liệu có thể bắt đầu với một loạt những ư kiến đúng đắn có thể tạo được niềm tin đối với người nghe. Sau đó, nói cách khác, một phản ứng mạnh mẽ sẽ được tạo ra từ những nhận định không mang lại hiệu quả hoặc một phản ứng nào. Hiện nay phương pháp thôi miên vẫn chưa được hiểu đúng nghĩa của nó, nhưng điều đó dường như để minh hoạ cho một “niềm tin tăng lên” trong cảm giác lúc bấy giờ.” (Trang 160)
Từ định nghĩa về sự kích thích ảo giác được nhắc đến trong bài này, độc giả có thể bắt đầu nhận ra được tầm ảnh hưởng rộng lớn về thuyết thôi miên được nhắc đến trong bài. Nó không chỉ được dùng nhằm giải thích những ảnh hưởng về hiện tượng thôi miên về vấn đề nhận thức mà c̣n cả những ảnh hưởng thôi miên (tính thuyết phục) của những người bán hàng, những luật sư, chính trị gia,...; hiệu quả của phương pháp thôi miên (giúp trấn an người bệnh) của những nhà tâm lư liệu pháp hay bác sĩ; và thậm chí cả những ảnh hưởng thực sự của thôi miên đối với cả những quan chức hay bệnh nhân.
Định nghĩa này không phân biệt giữa những t́nh trạng tỉnh táo và mơ hồ hay trong khi ngủ mà đó là chúng ta có thể h́nh thành những giải pháp “kích thích ảo giác thông thường” trong trạng thái nhắm mắt, ngủ gật, ngủ... giống như nhiều giải pháp thức tỉnh. Tuy nhiên thêm vào đó, “ngủ” có thể hỗ trợ nhiều cho việc kích thích ảo giác v́ trạng thái giống như khi ngủ được tạo ra từ đó có thể tạo ra sự những hạn chế thậm chí lớn hơn đối với những tác nhân kích thích đang cạnh tranh với những giải pháp này.
Như Hull đă nói, “đó là một thói quen thông thường của các nhà thôi miên khi có những giải pháp thư giăn trong khi kích thích hôn mê. ... Những giả thuyết hiện nay thừa nhận rằng sự thư giăn này đạt được hiệu quả nhiều hay ít khi chúng ngăn cản hoạt động ức chế trong quá tŕnh tưởng tượng. Bằng cách hạn chế này sẽ làm mất khả năng kiểm soát thông thường từ việc tưởng tượng dựa trên mức độ suy nghĩ thấp hơn. Điều đó sẽ giúp hoàn thiện những lần kế tiếp so với những ảnh hưởng của những tác nhân kích thích mở từ những tác nhân bên ngoài...” (Hull, 1933, trang 310)
Sự kích thích ảo giác trong Hệ biến hoá điều kiện cổ điển
Trong mục này, chúng ta sẽ cố gắng chỉ ra sự kích thích thôi miên làm thế nào để thực sự trở thành một quá tŕnh điều kiện.
Nghiên cứu Hệ biến hoá điều kiện
Trước khi chúng ta chỉ ra làm thế nào sự kích thích ảo giác phù hợp tới hệ biến hoá điều kiện, chúng ta phải hiểu hệ biến hoá điều kiện là ǵ. Trước hết, như đă chỉ ra trong định đề điều kiện, đối với một quy tŕnh được gọi là điều kiện nó phải bao hàm hai tác nhân kích thích có mặt đồng thời liên tục và thuộc trọng tâm của sự chú ư. Trong hệ điều kiện cổ điển, hai tác nhân kích thích thông thường được ám chỉ đến là CS và UCS. Tác nhân kích thích UCS thường là những tác nhân vô tính (ví dụ không có một phản ứng rơ ràng nào được sinh ra hoặc ít nhất không có phản ứng nào có điều kiện) và tác nhân UCS là một tác nhân kích thích tạo ra một số phản ứng mang tính chất bẩm sinh (ví dụ như nhóm thức ăn--tự vệ; sợ hăi -- rút lui). Tuy nhiên có một điểm quan trọng cần ghi nhớ, đó là không có cơ sở nào khẳng định tác nhân UCS phải tạo ra những phản ứng mang tính bẩm sinh. UCS hay c̣n gọi là tác nhân thứ hai trong cặp này có thể là tác nhân sinh ra phản ứng có điều kiện trước đó hoặc đă được biết đến. Trong hệ điều kiện cổ điển, điều này được đề cập đến như một điều kiện trật tự cao hơn và như Hebb đă chỉ ra, hầu hết những điều kiện trong cơ chế chín muồi thuộc loại điều kiện trật tự cao này.
4 Cần phải nhấn mạnh rằng trong giả định hiện nay, phương thức ru ngủ không phải là điều kiện cần thiết cho một sự kích thích ảo giác. V́ thế việc sử dụng thuật ngữ “thôi miên với ư nghĩa đưa người ta vào giấc ngủ” có thể là sai lầm và có thể thích hợp để thay đổi nó dần.
Một lư do khác cần phải ghi nhớ là bản chất của phản ứng có điều kiện (tác nhân CR). Chúng ta biết rằng trong trường hợp có điều kiện, người thử nghiệm không phải lúc nào cũng có hứng thú với phản ứng hoàn toàn đối với tác nhân UCS. Họ thường tập trung vào một bộ phận cấu thành của UCR mà họ cảm thấy hứng thú trong việc gắn kết chúng với tác nhân CS. Thông thường, bộ phận này là những phản ứng tích cực (ví dụ tự vệ, nháy mắt hay rút lui). Tuy nhiên, từ định đề ức chế tương hỗ chúng ta biết rằng khi xuất hiện một phản ứng tích cực sẽ có một phản ứng ức chế tương hỗ xảy ra. Hiện nay khi áp dụng hệ điều kiện vào sự kích thích ảo giác, chúng ta sẽ tập trung vào thành phần hạn chế hơn là thành phần tích
cực.
Cuối cùng, điều thứ ba cần phải ghi nhớ đó là tác nhân CS không cần thiết phải là một điều ǵ đó rơ ràng như tiếng chuông ngân, nhưng có thể đó là sự có mặt của người thực nghiệm cũng như bất kỳ hành động nào được nhắc đi nhắc lại trước mỗi lần tác nhân UCS xuất
hiện.
Bây giờ chúng ta sẽ phân biệt cụ thể cái ǵ là tác nhân CS, UCS, UCR, CR và những cuộc thử nghiệm.
TÓM TẮT
Thuyết thôi miên tổng quát chính là những nỗ lực nhằm giải thích 3 đặc điểm chính trong thuyết thôi miên dựa trên những nguyên tắc điều kiện và sự ức chế. (1) Phương pháp kích thích ảo giác đươc hiểu là nguyên tắc điều kiện sản sinh ra tác nhân gây ức chế. (2) Liệu pháp thôi miên (phản ứng phục hồi tăng) xảy ra do tác nhân này có thể hạn chế những tác nhân kích thích (gồm cả cảm giác và nhận thức) thông thường sẽ mâu thuẫn giải pháp đưa ra. (3) Những thay đổi về hành vi sau thôi miên được giải thích khi đang tiến hành thử nghiệm ở điều kiện cao hơn; điều kiện này được tác nhân gây ức chế hỗ trợ giúp hạn chế những tác nhân gây kích thích không phù hợp với điều kiện mới. Người ta cho rằng học thuyết này đủ mạnh để không những giải thích được về hiện tượng thôi miên và những giải pháp của nó, mà cả những lĩnh vực liên quan như thuyết phục, ảnh hưởng và niềm tin cho người bệnh, cũng như không đề cập đến triệu chứng mới của bệnh.
THUYẾT THÔI MIÊN: GIẢI THÍCH LIỆU PHÁP THÔI MIÊN, HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN VÀ CHẨN ĐOÁN SAU THÔI MIÊN
Tiến sĩ Alfred A. Barrios
Trung tâm tự kiểm soát bản thân, thành phố Culver bang
Califonia.
Trong nhiều năm qua, có nhiều người quan tâm đến hiệu quả của liệu pháp thôi miên và nhu cầu sử dụng liệu pháp này đă tăng lên đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bất kể nhu cầu đó có cao đến đâu, dường như cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lư học vẫn tỏ ra không mấy hài ḷng với liệu pháp này. Tại sao lại như
vậy?
Có ư kiến cho rằng lư do mà giới y khoa thời ơ với liệu pháp thôi miên không phải do nhu cầu không có thực hoặc quá cường điệu, tuy nhiên đó chính là v́ không thể ước lượng được số người tham gia vào liệu pháp này. Ẩn số này gây ra những nỗi sợ hăi (Phản ứng bản năng trước một điều bí ẩn), nhiều quan niệm sai lầm và rất nhiều lời chỉ trích không công bằng khiến người bệnh không dám hoặc tránh sử dụng liệu pháp này. Đến lúc đó, những ǵ chúng ta thực sự cần là một học thuyết hay một lời giải thích phù hợp về thuật thôi miên sẽ gắn kết nó với những bộ luật và thực tế hiển nhiên, và nhờ đó giúp chúng ta khai thác được lĩnh vực mới và bao trùm này. Học thuyết sau đây cho thấy những nỗ lực để đạt được kết quả này.
Học thuyết được chia thành 3 phần chính, mỗi phần sẽ đề cập đến 3 khía cạnh về thuyết thôi miên. Mỗi phần sẽ bắt đầu bằng những định nghĩa về các thuật ngữ, sau đó những giả thuyết chính và hệ quả sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho những mục này sau những chẩn đoán từ những bài kiểm tra kỹ lưỡng. Có tổng thể 7 giả thuyết cấu thành nên hệ giả thuyết. Giả thuyết I-III đề cập đến khía cạnh thứ nhất, giới thiệu về thuật thôi miên, Giả thuyết thứ IV và V đề cập đến khía cạnh thứ hai, hiện tượng thôi miên. Giả thuyết thứ VI và thứ VII đề cập đến khía cạnh thứ ba, chẩn đoán sau thôi miên. Nguyên do chia học thuyết này thành 3 phần nhằm nhấn mạnh sự thật rằng khi một người cố gắng giải thích về thôi miên, anh ta buộc phải tiến hành nhiều bước hơn nữa để giải thích hiện tượng thôi miên. Anh ta cũng buộc phải giải thích trạng thái thôi miên được tạo ra như thế nào và liệu pháp thôi miên tạo ra những thay đổi về hành vi sau thôi miên như thế nào. Những học thuyết gần đây nhất thực chất chỉ đề cập được vấn đề hiện tượng thôi miên.
Lời giải thích toàn diện nhất được đề cập sẽ chủ yếu căn cứ vào những nguyên tắc luyện tập và sự ức chế được mô tả trong các định đề. Về tổng quan, phương pháp kích thích thôi miên này được xem là điều kiện của tiền đề kiềm chế nhằm tăng tính chính xác cho giả thuyết bằng cách hạn chế những tác nhân kích thích và những suy nghĩ không phù hợp với đáp án giả định. Những hiện tượng thôi miên khác nhau bao gồm có hiện tượng chẩn đoán sau thôi miên sẽ được giải thích trong những thuật ngữ trong mục này.
Học thuyết được đề cập trong phần này là một phần trong luận văn tiến sĩ năm 1969 tại trường Đại Học California thuộc bang Los Angeles. Luận văn này một phần được hỗ trợ từ phía những đồng nghiệp trong Tổ chức Y Tế Cộng Đồng thuộc Viện Sức Khoẻ Thần Kinh Quốc Gia, Tổ chức Y tế Cộng Đồng.
NHỮNG ĐỊNH ĐỀ
CƠ BẢN
Một trong những mục đích
chủ yếu của bất kỳ
học thuyết hay bài thuyết tŕnh
nào đó là phải kết hợp
chặt chẽ giữa những
triệu chứng đă được
giải thích với những quy
tắc hiện hành. Có thể
thực hiện điều này
bằng cách trước tiên phải
nhận diện được
những quy tắc hiện hành và sau
đó chứng minh được
học thuyết này (hệ giả
thuyết giải thích cho những
hiện tượng) được
rút ra từ những quy tắc đó
như thế nào cũng như
chứng minh nó phù hợp với
những quy tắc này hay không. Dưới
đây, chúng ta sẽ nhận
biết được những quy
tắc hiện hành (chính là những
định đề) sẽ
được kết hợp
chặt chẽ với học
thuyết thôi miên.Khi một đọc
giả xem qua những định
đề này, anh ta nên nhớ
rằng tại thời điểm này
khoa học tâm lư vẫn chưa đạt
được đến điểm
mà chúng ta thực sự có thể nói
về quy định trong khả năng
của những quy tắc được
chấp nhận và xây dựng kiên
cố. V́ thế không ai có thể
mong đợi việc anh ta sẽ hoàn
toàn chấp nhận giá trị pháp lư
của những định đề
này. Tuy nhiên, người ta cho
rằng bằng chứng thuyết
phục sẽ được sử
dụng nhằm chứng minh những
định đề này là những
t́nh huống hợp lư so với
những quy định trước
đây. V́ thế, nếu những
giả thuyết của học
thuyết hiện nay được
kiểm chứng và thông qua, th́ giá
trị pháp lư của những định
đề này bản thân nó sẽ
tự được phát triển hơn
nữa.
THUYẾT THÔI MIÊN: GIẢI THÍCH LIỆU PHÁP THÔI MIÊN, HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN VÀ CHẨN ĐOÁN SAU THÔI MIÊN
Tiến sĩ Alfred A. Barrios
Trung tâm tự kiểm soát bản thân, thành phố Culver bang Califonia.
Trong nhiều năm qua, có nhiều người quan tâm đến hiệu quả của liệu pháp thôi miên và nhu cầu sử dụng liệu pháp này đă tăng lên đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bất kể nhu cầu đó có cao đến đâu, dường như cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lư học vẫn tỏ ra không mấy hài ḷng với liệu pháp này. Tại sao lại như vậy?
Có ư kiến cho rằng lư do thờ ơ từ giới y khoa trước liệu pháp thôi miên không phải do nhu cầu không có thực hoặc quá cường điệu, tuy nhiên đó chính là v́ không thể ước lượng được số người tham gia vào liệu pháp này. Ẩn số này gây ra những nỗi sợ hăi (Phản ứng bản năng trước một điều bí ẩn), nhiều quan niệm sai lầm và rất nhiều lời chỉ trích không công bằng khiến người bệnh không dám hoặc tránh sử dụng liệu pháp này. Đến lúc đó, những ǵ chúng ta thực sự cần là một học thuyết hay một lời giải thích phù hợp về thuật thôi miên sẽ gắn kết nó với những bộ luật và thực tế hiển nhiên, và nhờ đó giúp chúng ta khai thác được lĩnh vực mới và bao trùm này. Học thuyết sau đây cho thấy những nỗ lực để đạt được kết quả này.
Học thuyết được chia thành 3 phần chính, mỗi phần sẽ đề cập đến 3 khía cạnh về thuyết thôi miên. Mỗi phần sẽ bắt đầu bằng những định nghĩa về các thuật ngữ, sau đó những giả thuyết chính và hệ quả sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho những mục này sau những chuẩn đoán từ những bài kiểm tra kỹ lưỡng. Có tổng thể 7 giả thuyết cấu thành nên hệ giả thuyết. Giả thuyết I-III đề cập đến khía cạnh thứ nhất, giới thiệu về thuật thôi miên, Giả thuyết thứ IV và V đề cập đến khía cạnh thứ hai, hiện tượng thôi miên. Giả thuyết thứ VI và thứ VII đề cập đến khía cạnh thứ ba, chẩn đoán sau thôi miên. Nguyên do chia học thuyết này thành 3 phần nhằm nhấn mạnh sự thật rằng khi một người cố gắng giải thích về thôi miên, anh ta buộc phải tiến hành nhiều bước hơn nữa để giải thích hiện tượng thôi miên. Anh ta cũng buộc phải giải thích trạng thái thôi miên được tạo ra như thế nào và liệu pháp thôi miên tạo ra những thay đổi về hành vi sau thôi miên như thế nào. Những học thuyết gần đây nhất thực chất chỉ đề cập được vấn đề hiện tượng thôi miên.
Lời giải thích toàn diện nhất được đề cập sẽ chủ yếu căn cứ vào những nguyên tắc luyện tập và sự ức chế được mô tả trong các định đề. Chỉ việc thử cắn vào ngón tay hay th́ thầm câu quan trọng vào tai một ai đó. Loại thôi miên tức th́ này lập tức sẽ diễn ra như kết quả của một chủ thể đang được thôi miên trước đó và được mang lại một chẩn đoán sau thôi miên sẽ được nhớ lại trong giấc ngủ thôi miên trong một trường hợp cho trước. Dạng tác nhân ức chế phát triển trong suốt thời gian kích thích ảo giác đă được điều kiện hoá đối với trường hợp này (xem phần dưới đây về giải pháp sau thôi miên) và nhờ đó đă được thức tỉnh khi được gợi ư.
Tuy nhiên loại giấc ngủ thôi miên nhanh chóng này cũng có thể diễn ra mà trước đó không cần nhà thôi miên tiến hành thôi miên trực tiếp với chủ thể. Điều này có thể diễn ra khi chủ thể nghe hoặc nh́n thầy những ảnh hưởng to lớn của các nhà thôi miên và họ tin vào điều đó. Bằng cảm giác, chủ thể này đă được thôi miên hoặc điều kiện hoá bằng cách nghe hoặc chứng kiến những phản ứng tích cực thu được nhờ các nhà thôi miên. (Vấn đề này sẽ được thảo luận sâu hơn trong mục tư cách bên dưới).
Tự thôi miên
Sự kích thích tự thôi miên được giải thích giống như sự kích thích thôi miên trên đây. Sự khác biệt duy nhất trong trường hợp này đó là chủ thể đóng vai tṛ vừa là nhà thôi miên vừa là chủ thể được thôi miên. Để đưa vào thuật ngữ của hệ điều kiện, sự khác biệt lớn duy nhất là trong h́nh thức tự thôi miên, tác nhân CS thuộc t́nh huống tác nhân dưới đây: “Chủ thể tự ḿnh tiến hành trong quá tŕnh kích thích thôi miên” hơn là “nhà thôi miên giúp chủ thể đạt được sự kích thích thôi miên”.
Cũng có một phương pháp tự thôi miên tức th́. Phương pháp này cũng được giải thích tương tự như dạng thôi miên tức th́ ban đầu ngoại trừ một vấn đề, chủ thể là người tự tiến hành thôi miên. Người ta cũng cho rằng trong trạng thái đó anh ta sẽ có thể tự tạo ra những hướng dẫn giống cách thôi miên tức th́, trong đó bao hàm cả cách tự thức tỉnh.
Giải thích về Sự kích thích ảo giác dựa trên 3 giả thuyết
Lời giải thích về sự kích thích ảo giác trên đây có thể được thể hiện súc tích hơn trong 3 giả thuyết chính dưới đây. Trong phần này chúng ta sẽ t́m ra những bằng chứng hỗ trợ chứng minh những giả thuyết này là đúng cũng như tiến hành những cuộc thí nghiệm sâu hơn.
Giả thuyết I: Kích thích ảo giác là một quá tŕnh điều kiện
Hull và những cộng sự của ông đă đưa ra được một bằng chứng khá thuyết phục chứng minh giả thuyết này. Trong chương có tên “Thôi miên được xem như một thói quen”, Hull (1933) đă cho rằng nếu sự thôi miên có được là từ một quá tŕnh điều kiện, hoặc là một “biểu hiện của thói quen” khi ông muốn đề cập đến, nó sẽ cho thấy những đặc điểm riêng biệt giống như những biểu hiện của thói quen. (Chúng ta đang đưa ra một giả định rằng những thói quen chính là những dạng của phản ứng có điều kiện). Hull đă chỉ ra 6 đặc trưng phổ biến đó: (1) thói quen trong hoạt động làm đơn giản hoạt động sau nó; (2) mức độ thuận lợi trong hoạt động của thói quen nhanh hơn ở những phản ứng đầu tiên so với những phản ứng sảy ra sau; (3) Thời gian loại trừ xảy ra sau khi mất đi sự thuận lợi do hoạt động gây ra; (4) những phản ứng khác tương đương nhau, mất đi sự thuận lợi sau khi loại bỏ ít hơn ở những nơi khoảng cách giữa những lần lặp lại đầu tiên rộng hơn so với những khoảng cách ngắn; (5) sẽ phục hồi lại sự hoạt động, đường cong của hoạt động mới chỉ ra h́nh ảnh của gia tốc phủ định; và (6) mức độ giảm sau khi mất được phục hồi với ít hoạt động xảy ra so với yêu cầu đối với những ǵ thu được lần đầu.
Trong hai cuộc thử nghiệm do Kreuger tiến hành (1931), một trong những cộng sự của ông đă cho rằng kích thích ảo giác thực sự đă cho thấy những đặc điểm trên đây.
Hull cũng đưa ra những bằng chứng chứng thực từ một loạt những thí nghiệm chứng minh rằng tâm trạng tỉnh táo (được cho rằng trong bài này thực tế giống như tâm trạng thôi miên) có “những ảnh hưởng thói quen so với những ảnh hưởng đặc trưng mà Kreuger đă chỉ ra trong quá tŕnh thôi miên.” (Hull, 1933 trang 343). Những thử nghiệm này được thực hiện bới Hull và Huse (1930), Williams (1930) và Patten, Switzer và Hull (1932).
Trong phần kết chương “Thôi miên được xem như thói quen”, Hull đă khẳng định:
“Phù hợp một cách chi tiết và đáng kể trong giấc ngủ nhân tạo kỳ lạ đối với những đặc điểm về hành vi thông thường trong thử nghiệm đă được biết đến rất khó để nói là t́nh cờ và vô nghĩa. Những chỉ dẫn dường như là dù giấc ngủ thôi miên là bất kỳ điều ǵ khác chăng nữa, ở quy mô lớn, ít nhất đó là đặc điểm của thói quen và rằng những giả thuyết này có thể tạo ra cơ sở cho một sự hiểu biết cơ bản cũng như lời giải thích về những đặc trưng gần như không thể giải thích của nó.” (Hull, 1993, trang 347).
Độc giả có thể thắc mắc về việc sử dụng bằng chứng của Hull trong việc chứng minh cho giả thuyết thứ nhất trên cơ sở giả thuyết sau đó liên quan đến điều kiện của “một dạng ức chế”, không phải là một phản ứng cụ thể như đă được đề cập trong định đề của Hull. Rơ ràng ở đây không có một sự nhất quán rơ ràng nào. Cũng như Harlov và Osgood, tác giả cho rằng “Cùng với mọi sự tăng trưởng theo xu hướng của thói quen kích thích ở cơ cấu của một phản ứng cho trước, cũng có một sự phát triển tương thích trong xu hướng thói quen ức chế được sinh ra với phản ứng tương phản trực tiếp” (Osgood, 1948, trang 150) và nhờ đó, cả hai phản ứng này đều có liên quan trực tiếp.
Giả định II: Phản ứng có điều kiện trong quá tŕnh kích thích ảo giác là một dạng ức chế có xu hướng ngăn chặn những tác nhân kích thích không tương thích với phản ứng mà nhà thôi miên gợi ư.
Tất nhiên giả định này được tạo ra với một quy mô lớn dựa trên Hệ quả 4 của các định đề cho rằng những phản ứng ức chế có thể được điều kiện hoá.
Có rất nhiều hệ quả rút ra từ giả định II; chúng ta sẽ xem xét đến 3 trong số những hệ quả này.
Hệ quả 1: Độ phản ứng đối với những tác nhân cạnh tranh sẽ giảm khi sự kích thích ảo giác diễn ra.
Đây sẽ là những ǵ mà chúng ta mong đợi nếu kích thích ảo giác bao gồm cả điều kiện của một dạng ức chế, và dẫn đến khi kích thích ảo giác diễn ra, dạng ức chế này sẽ tăng lên.
Những kết quả thu được từ cuộc thử nghiệm của Hermandez và những cộng sự (1960) dường như ủng hộ cho hệ quả này. Những nhà nghiên cứu này đă nhận ra rằng kích thích ảo giác được sinh ra khi mức độ co giăn của cơ tay giảm do kích thích xúc giác tạo nên. (Sự kích thích xúc giác có thể được xem như một tác nhân kích thích cạnh tranh). Thật lư thú khi ghi nhận những kết quả thu được:
“Tất cả những bước tiến hành thôi miên đ̣i hỏi phải tập trung sự chú ư vào hành động thực hiện của người tiến hành với việc loại bỏ những tác nhân không phù hợp (tác nhân đối kháng). … Khi đang ở trạng thái thôi miên, ngưỡng nhận thức về những phương pháp khác dường như dễ giải thích hơn so với khả năng của thính giác tăng lên nhờ sự kích thích cảm giác ly tâm được yêu cầu ở những mức độ thấp hơn trong hệ thống thần kinh trung ương….
“Những kết quả của chúng tôi phù hợp với những giả định được đề cập trên đây mặc dù đôi khi mức phản ứng bên ngoài dường như không thay đổi trong quá tŕnh tiến hành thôi miên ở hầu hết những thí nghiệm, mức độ giảm xuống nhiều hay ít tự nó sinh ra từ trạng thái thôi miên…
“ Những kết quả của chúng tôi nhất quán với những kết quả của Sears 91932), Dynes (1932), Doupe và cộng sự (1939) về việc gây mê nhờ liệu pháp thôi miên, những việc giảm những phản ứng sinh học không chủ động trước những sự tổn thương như kích thích thần kinh, hoạt động hô hấp, tim và mạch.” (trang 37 và 40)
Hệ quả 2: Tăng cường phản ứng ức chế trong cặp CS ở mỗi lần thử nghiệm sẽ giúp đơn giản cho định đề điều kiện).
Hệ quả này sẽ giúp giải thích câu hỏi làm thế nào trạng thái ngủ có thể hỗ trợ cho sự kích thích ảo giác. Những trạng thái ngủ sẽ tạo ra một phản ứng ức chế bổ xung cùng với phản ứng được tạo ra từ phản ứng tích cực đối với phương thức này, điều đó sẽ tạo ra những phản ứng ức chế mạnh hơn với mỗi giải pháp.
Đặc điểm này cho rằng trạng thái mơ hồ có thể tạo ra những trạng thái giống như trạng thái được tạo ra khi ngủ.
TÓM TẮT
Thuyết thôi miên tổng quát chính là những nỗ lực nhằm giải thích 3 đặc điểm chính trong thuyết thôi miên dựa trên những nguyên tắc điều kiện và sự ức chế. (1) Phương pháp kích thích ảo giác được hiểu là nguyên tắc điều kiện sản sinh ra tác nhân gây ức chế. (2) Liệu pháp thôi miên (phản ứng phục hồi tăng) xảy ra do tác nhân này có thể hạn chế những tác nhân kích thích (gồm cả cảm giác và nhận thức) thông thường sẽ mâu thuẫn giải pháp đưa ra. (3) Những thay đổi về hành vi sau thôi miên được giải thích khi đang tiến hành thử nghiệm ở điều kiện cao hơn; điều kiện này được tác nhân gây ức chế hỗ trợ giúp hạn chế những tác nhân gây kích thích không phù hợp với điều kiện mới. Người ta cho rằng học thuyết này đủ mạnh để không những giải thích được về hiện tượng thôi miên và những giải pháp của nó, mà cả những lĩnh vực liên quan như thuyết phục, ảnh hưởng và niềm tin cho người bệnh, cũng như không đề cập đến triệu chứng mới của bệnh.
THUYẾT THÔI MIÊN: GIẢI THÍCH LIỆU PHÁP THÔI MIÊN, HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN VÀ CHẨN ĐOÁN SAU THÔI MIÊN
Tiến sĩ Alfred A. Barrios
Trung tâm tự kiểm soát bản thân, thành phố Culver bang Califonia.
Trong nhiều năm qua, có nhiều người quan tâm đến hiệu quả của liệu pháp thôi miên và nhu cầu sử dụng liệu pháp này đă tăng lên đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bất kể nhu cầu đó có cao đến đâu, dường như cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lư học vẫn tỏ ra không mấy hài ḷng với liệu pháp này. Tại sao lại như vậy?
Có ư kiến cho rằng lư do mà giới y khoa thờ ơ với liệu pháp thôi miên không phải do nhu cầu không có thực hoặc quá cường điệu, mà đó chính là v́ không thể ước lượng được số người tham gia vào liệu pháp này. Ẩn số này gây ra những nỗi sợ hăi (Phản ứng bản năng trước một điều bí ẩn), nhiều quan niệm sai lầm và rất nhiều lời chỉ trích không công bằng khiến người bệnh không dám hoặc tránh sử dụng liệu pháp này. Đến lúc đó, những ǵ chúng ta thực sự cần là một học thuyết hay một lời giải thích phù hợp về thuật thôi miên sẽ gắn kết nó với những bộ luật và thực tế hiển nhiên, và nhờ đó giúp chúng ta khai thác được lĩnh vực mới và bao trùm này. Học thuyết sau đây cho thấy những nỗ lực để đạt được kết quả này.
Học thuyết được chia thành 3 phần chính, mỗi phần sẽ đề cập đến 3 khía cạnh về thuyết thôi miên. Mỗi phần sẽ bắt đầu bằng những định nghĩa về các thuật ngữ, sau đó những giả thuyết chính và hệ quả sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho những mục này sau những chẩn đoán từ những bài kiểm tra kỹ lưỡng. Có tổng thể 7 giả thuyết cấu thành nên hệ giả thuyết. Giả thuyết I-III đề cập đến khía cạnh thứ nhất, giới thiệu về thuật thôi miên, Giả thuyết thứ IV và V đề cập đến khía cạnh thứ hai, hiện tượng thôi miên. Giả thuyết thứ VI và thứ VII đề cập đến khía cạnh thứ ba, chẩn đoán sau thôi miên. Nguyên do chia học thuyết này thành 3 phần nhằm nhấn mạnh sự thật rằng khi một người cố gắng giải thích về thôi miên, anh ta buộc phải tiến hành nhiều bước hơn nữa để giải thích hiện tượng thôi miên. Anh ta cũng buộc phải giải thích trạng thái thôi miên được tạo ra như thế nào và liệu pháp thôi miên tạo ra những thay đổi về hành vi sau thôi miên như thế nào. Những học thuyết gần đây nhất thực chất chỉ đề cập được vấn đề hiện tượng thôi miên.
Lời giải thích toàn diện nhất được đề cập sẽ chủ yếu căn cứ vào những nguyên tắc luyện tập và sự ức chế được mô tả trong các định đề.
TÓM TẮT
Thuyết thôi miên tổng quát chính là những nỗ lực nhằm giải thích 3 đặc điểm chính trong thuyết thôi miên dựa trên những nguyên tắc điều kiện và sự ức chế. (1) Phương pháp kích thích ảo giác được hiểu là nguyên tắc điều kiện sản sinh ra tác nhân gây ức chế. (2) Liệu pháp thôi miên (phản ứng phục hồi tăng) xảy ra do tác nhân này có thể hạn chế những tác nhân kích thích (gồm cả cảm giác và nhận thức) thông thường sẽ mâu thuẫn giải pháp đưa ra. (3) Những thay đổi về hành vi sau thôi miên được giải thích khi đang tiến hành thử nghiệm ở điều kiện cao hơn; điều kiện này được tác nhân gây ức chế hỗ trợ giúp hạn chế những tác nhân gây kích thích không phù hợp với điều kiện mới. Người ta cho rằng học thuyết này đủ mạnh để không những giải thích được về hiện tượng thôi miên và những giải pháp của nó, mà cả những lĩnh vực liên quan như thuyết phục, ảnh hưởng và niềm tin cho người bệnh, cũng như không đề cập đến triệu chứng mới của bệnh.
THUYẾT THÔI MIÊN: GIẢI THÍCH LIỆU PHÁP THÔI MIÊN, HIỆN TƯỢNG THÔI MIÊN VÀ CHẨN ĐOÁN SAU THÔI MIÊN
Tiến sĩ Alfred A. Barrios
Trung tâm tự kiểm soát bản thân, thành phố Culver bang Califonia.
Trong nhiều năm qua, có nhiều người quan tâm đến hiệu quả của liệu pháp thôi miên và nhu cầu sử dụng liệu pháp này đă tăng lên đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, bất kể nhu cầu đó có cao đến đâu, dường như cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lư học vẫn tỏ ra không mấy hài ḷng với liệu pháp này. Tại sao lại như vậy?
Có ư kiến cho rằng lư do mà giới y khoa thời ơ với liệu pháp thôi miên không phải do nhu cầu không có thực hoặc quá cường điệu, tuy nhiên đó chính là v́ không thể ước lượng được số người tham gia vào liệu pháp này. Ẩn số này gây ra những nỗi sợ hăi (Phản ứng bản năng trước một điều bí ẩn), nhiều quan niệm sai lầm và rất nhiều lời chỉ trích không công bằng khiến người bệnh không dám hoặc tránh sử dụng liệu pháp này. Đến lúc đó, những ǵ chúng ta thực sự cần là một học thuyết hay một lời giải thích phù hợp về thuật thôi miên sẽ gắn kết nó với những bộ luật và thực tế hiển nhiên, và nhờ đó giúp chúng ta khai thác được lĩnh vực mới và bao trùm này. Học thuyết sau đây cho thấy những nỗ lực để đạt được kết quả này.
Học thuyết được chia thành 3 phần chính, mỗi phần sẽ đề cập đến 3 khía cạnh về thuyết thôi miên. Mỗi phần sẽ bắt đầu bằng những định nghĩa về các thuật ngữ, sau đó những giả thuyết chính và hệ quả sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho những mục này sau những chẩn đoán từ những bài kiểm tra kỹ lưỡng. Có tổng thể 7 giả thuyết cấu thành nên hệ giả thuyết. Giả thuyết I-III đề cập đến khía cạnh thứ nhất, giới thiệu về thuật thôi miên, Giả thuyết thứ IV và V đề cập đến khía cạnh thứ hai, hiện tượng thôi miên. Giả thuyết thứ VI và thứ VII đề cập đến khía cạnh thứ ba, chẩn đoán sau thôi miên. Nguyên do chia học thuyết này thành 3 phần nhằm nhấn mạnh sự thật rằng khi một người cố gắng giải thích về thôi miên, anh ta buộc phải tiến hành nhiều bước hơn nữa để giải thích hiện tượng thôi miên. Anh ta cũng buộc phải giải thích trạng thái thôi miên được tạo ra như thế nào và liệu pháp thôi miên tạo ra những thay đổi về hành vi sau thôi miên như thế nào. Những học thuyết gần đây nhất thực chất chỉ đề cập được vấn đề hiện tượng thôi miên.
Lời giải thích toàn diện nhất được đề cập sẽ chủ yếu căn cứ vào những nguyên tắc luyện tập và sự ức chế được mô tả trong các định đề. Về tổng quan, phương pháp kích thích thôi miên này được xem là điều kiện của tiền đề kiềm chế nhằm tăng tính chính xác cho giả thuyết bằng cách hạn chế những tác nhân kích thích và những suy nghĩ không phù hợp với đáp án giả định. Những hiện tượng thôi miên khác nhau bao gồm có hiện tượng chẩn đoán sau thôi miên sẽ được giải thích trong những thuật ngữ trong mục này.
Hệ quả 5: Trong trường hợp một loạt các lời gợi ư được đưa ra cho một người, nếu các lời gợi ư được đưa ra theo thứ tự tăng dần về độ khó th́ khả năng dẫn đến trạng thái bị thôi miên sẽ cao hơn là khi chúng được đưa ra theo thứ tự ngẫu nhiên.
Điều này được dự đoán từ khi khả năng xảy ra phản ứng tích cực với bất cứ lời gợi ư đơn lẻ nào, khả năng đó càng lớn th́ số các phản ứng tích cực càng cao trước những lời gợi ư ban đầu, và nó càng tăng lên mức tối đa nếu các giả thuyết được đưa ra theo chiều hướng tăng dần về mức độ khó. Mỗi phản ứng tích cực đều làm tăng khả năng thành công trong những giả thuyết tiếp theo.
Thật là thú vị khi nh́n vào những kết quả của Barber trong quan niệm này (1961, 1965). Trong rất nhiều nghiên cứu, ông đă cho thấy rằng rất nhiều hiện tượng thôi miên hữu ích có thể được tiến hành thông qua các phương pháp gợi lại trí nhớ trong t́nh trạng thức mà không cần đến "chỉ dẫn thôi miên". (Ông ấy coi thuật thôi miên như là quá tŕnh đưa con người vào giấc ngủ hay gợi thư giăn). Tuy nhiên, nếu như ai đó nh́n vào nghiên cứu của Barder, th́ họ sẽ nhận ra rằng ông ấy thường xuyên đưa ra các phương pháp gợi lại trí nhớ trong t́nh trạng thức theo sâu chuỗi (không theo "phương pháp thôi miên") và thường trong mức độ tăng dần về độ khó. Và một điều thú vị nữa mà ông ấy đă nhận ra khi đưa một vài chủ thể tham gia vào quá tŕnh thôi miên đó chính là nguyên nhân đă dẫn tới tỉ lệ cao những phản ứng tốt của thôi miên, ít nhất th́ họ cũng đă xem những định nghĩa của nó tŕnh bày trên trang giấy. Nói cách khác, phản ứng tích cực trước những giả thuyết đầu tiên làm tăng khả năng phản ứng cho giả thuyết tiếp theo. Hệ quả 6: Trạng thái thôi miên có thể được tiến hành đơn giản hoá nếu như, trong khi thôi miên từng giả thuyết lần lượt được đưa ra, th́ lập tức các kích thích giác quan sẽ tạo nên phản ứng từ những giả thuyết này mà chủ thể không cần sử dụng đến kiến thức của ḿnh.
Việc này được tiến hành theo cách trong đó chủ thể không hề biết nguyên nhân tạo nên các phản ứng, do đó các phản ứng do quá tŕnh thôi miên h́nh thành các phản ứng trong chủ thể một cách tự nhiên. Nó được tiến hành như thế, nếu một khi kích thích cảm giác được lưu giữ đủ độ th́ hầu như nó sẽ dừng lại tại thời điểm đó. Phản ứng do kích thích cảm giác cộng với kích thích nhận biết (đưa ra t́nh huống gợi nhớ) dẫn tới phản ứng toàn diện.
Phản ứng có thể được tạo nên theo nhiều cách. Chẳng hạn, giả sử nếu một người nh́n vào một mục tiêu ở một góc khó nh́n th́ mắt sẽ phải chịu một áp lực căng thẳng và sẽ trở nên một mỏi. Hay giả sử một giả thuyết rằng một người sẽ cảm thấy lạnh có thể được củng cố bởi việc giảm nhiệt độ của pḥng xuống.
Thật thú vị khi biết rằng các thí nghiệm đó đă được đưa vào áp dụng. Dưới đây là thí nghiệm "luyện tập trừu tượng" của Corn-Becker et al (1949), trong thí nghiệm này một loạt các gợi ư "được dựng lên" tạo ra phản ứng tích cực cho gợi ư tiếp theo mà "không cần một sự cố gắng nào". Sự khác biệt chính giữa thí nghiệm của Corn-Becker và thí nghiệm dựa trên hệ quả đó là thí nghiệm của Corn-Becker không cố gắng giữ các tác nhân kích thích gần ngưỡng của nó, và v́ thế mà chủ thể hiểu biết khá rơ về những nguyên nhân bên trong của các phản ứng và không c̣n nghĩ rằng chúng chỉ đơn độc phụ thuộc vào các gợi ư của E. Có người cho rằng trong thí nghiệm của Corn-Becker bất cứ một sự h́nh thành nhân tố ngăn chặn có điều kiện nào đều được quy định theo một kích thích điển h́nh "Người thí nghiệm kết hợp với kích thích bên ngoài", khi đó trong thí nghiệm đưa ra dựa trên hệ quả th́ CS sẽ chỉ là "Người thí nghiệm" (hay Nhà thôi miên). Một nguyên nhân hợp lư nữa đó là Corn-Becker đă nhận một phản ứng tích cực tới lời gợi ư "không cố gắng" ở cuối một loạt các gợi ư đă được đưa ra, do bởi kích thích dây chuyền. Ví dụ được quy định cho một kích thích điển h́nh (Người thí nghiệm kết hợp với kích thích bên ngoài), chủ thể sẽ vẫn phản ứng lại với các phần của mô h́nh này (người thí nghiệm). Tuy nhiên, người ta dự đoán rằng phản ứng dây chuyền này sẽ không mạnh bằng phản ứng mà trong đó CS được sử dụng trong suốt quá tŕnh luyện tập (cả về mặt quy mô lẫn sự thoải mái của sự triệt tiêu). Tuy nhiên, khái niệm này làm nhẹ bớt những hứng chịu của chỉ dẫn thôi miên qua quá tŕnh nghiên cứu. Có thể có một lợi thế qua việc "tiếp cận ngưỡng thay thế" mà không phải cố gắng lừa dối chủ thể. Nếu như chủ thể phát hiện ra sự lừa dối th́ nó có thể sản sinh ra một suy nghĩ rất xấu tới thái độ của anh ta đối với thôi miên.
Ảnh hưởng của các nhân tố đơn lẻ khác nhau tới quá tŕnh thôi miên.
Trong phần này chúng ta sẽ liệt kê ra một loạt các nhân tố đơn lẻ khác nhau mà có xu hướng ảnh hưởng tới quá tŕnh thôi miên và cố gắng chỉ ra có thể giải thích như thế nào về vai tṛ của chúng đối với thuyết này.
Sự chăm sóc tự nguyện (sự tập trung)
Con người thể hiện khả năng khác nhau của ḿnh trong quá tŕnh tự nguyện triệt tiêu những kích thích không phù hợp (khả năng tập trung). Chúng ta cũng biết rằng khả năng tập trung vào các giả thuyết quá tŕnh thôi miên càng cao bao nhiêu th́ khả năng xảy ra các phản ứng một cách tích cực đối với họ càng cao bấy nhiêu. V́ vậy, chúng ta có thể dự đoán rằng khả năng tập trung của chủ thể càng cao th́ khả năng thành công của quá tŕnh thôi miên càng cao.
Uy tín
Phải công nhận một điều rằng uy tín của thôi miên trong con mắt chủ thể càng cao th́ thành công của anh ấy càng tốt hơn. Điều đó là bởi v́ các bài phát biểu, những lời khuyên hay gợi ư con người gắn với uy tín sẽ ít bị chất vấn hơn..., Chẳng hạn như một người gợi lên một sự thiết lập ngăn chặn lớn hơn tới sự bắt đầu tiếp cận với uy tín. Thông thường, trước tiên con người hay đặt ra câu hỏi để có thể thừa nhận mặt giá trị của những bài phát biểu của một người nào đó, lẽ dĩ nhiên người đó phải có uy tín trong lĩnh vực mà anh ấy đưa ra. Đó là, nhân tố ngăn chặn ngăn cản các kích thích trái ngược, mà các kích thích này được đặt ra trước đó (cũng tương tự như cách đưa ra quy tŕnh thuật thôi miên). Điều này là do bởi những ǵ mà một người uy tín nói, th́ chúng được gắn với suy nghĩ đó là sự thật.
Một người mà được biết đến như là một nhà chuyên môn càng nhiều th́ sự chấp nhận những bài phát biểu của người đó càng tốt hơn (ví dụ, nhân tố ngăn chặn tốt hơn). Do đó, khi một người lắng nghe những thành công lớn của một nhà thôi miên ( hay những bằng chứng xác nhận cho họ), nhân tố uy tín hay nhân tố ngăn chặn được nhà thôi miên gợi lên và chúng hỗ trợ cho quá tŕnh thôi miên. Điều này có thể được kiểm định thông qua việc quan sát hiệu quả của quá tŕnh thôi miên một chủ thể đă được xác định trước trước một chủ thể dự tính trong tương lai. Ít nhất có một thí nghiệm đă hỗ trợ cho việc uy tín có thể tăng cơ hội thành công cho chỉ dẫn thôi miên, đó là của Das(1960).
Người ta cảm thấy rằng, việc giả thuyết gợi nhớ có hiệu quả thường xuyên đối với một khu vực lớn, nó phụ thuộc vào nhân tố uy tín.
Liên quan với hiệu quả của nhân tố uy tín chính là khái niệm của sự truyền đạt, nó chính là phương pháp được các nhà phân tích tâm lư học sử dụng trong khi giải thích về thuật thôi miên. Cảm giác sau đó là một trong những nhân tố chính đóng góp trong giai đoạn thôi miên, đó là hiệu quả của việc truyền đạt, chẳng hạn như chủ thể trong khi bị thôi miên đă tác động lại nhà thôi miên như là anh ấy đang hành động với bố mẹ ḿnh khi anh ta c̣n nhỏ. Sự ảnh hưởng uy tín của bố mẹ được truyền đạt tới nhà thôi miên trong suốt tiến tŕnh thôi miên theo quan điểm này. Nó có thể là những đặc tính tiêu biểu của nhà thôi miên và quá tŕnh thôi miên của ông, thông qua tính dây chuyền, gợi lên hiệu quả của uy tín theo dạng bố mẹ-con cái và sự hiệu quả này, sau đó tác động trở lại tới quá tŕnh thôi miên và làm đơn giản hoá nó. Nó đóng một vai tṛ quan trọng trong khi thôi miên như thế nào th́ nó sẽ được quyết định bởi chủ thể tiếp nhận nó như thế khi nhà thôi miên đóng vai tṛ là cha mẹ của chủ thể.
Nên chỉ ra rằng sự truyền đạt này cũng có thể gây ảnh hưởng xấu tới quá tŕnh thôi miên nếu như người bệnh đó đă phát triển những mô h́nh phản ứng tiêu cực với cha mẹ anh ta.
Hy vọng của chủ thể
Sự hy vọng của chủ thể khi bị thôi miên có thể dẫn tới một số những tác động khác nhau trong giai đoạn thôi miên. Trước hết, đó có thể là tác động tiêu cực nếu như chủ thể đó rất sợ hăi khi bị thôi miên. Nhưng ngược lại, nếu như anh ấy nằm trong số những người ưa mạo hiểm, thích khám phá những "điều chưa biết", th́ nó lại có tác dụng tích cực (Những tác động này sẽ được đề cập đến trong phần nói về những nỗi sợ hăi).
Tác động thứ hai đó là sự hy vọng có thể có khi tập trung chú ư của chủ thể vào những sự kiện CS-CR. Như kết quả của sự mong đợi khi tiến hành thôi miên, chủ thể sẽ thích thú hơn khi gán sự việc xảy ra như là một hiện tượng "kỳ lạ" của thuật thôi miên hơn là sự việc xảy ra do nguyên nhân bên trong. Ví dụ như, nếu như giả thuyết bị lạnh được đưa ra khi chưa tiến hành thôi miên, chủ thể sẽ thích thú hơn khi gán cho bất cứ cảm giác lạnh sau đó là t́nh trạng của cơ thể mà người nào đó đă hạ thấp nhiệt độ trong pḥng. Nếu như anh ấy không liên kết phản ứng tích cực (và chính là những phản ứng ngăn chặn) với nhà thôi miên (CS), th́ sau đó trạng thái thèm muốn sẽ không diễn ra. Ư tưởng, tập trung sự chú ư vào sự việc xảy ra ngẫu nhiên có thể làm đơn giản hoá điều kiện mà được những bài nghiên cứu gần đây về tác dụng của những hiểu biết trong học tập hỗ trợ (ví dụ., Eriksen, 1962). Những nghiên cứu này chỉ ra rằng chủ thể càng hiểu rơ ràng cụ thể về sự việc ngẫu nhiên xảy ra bao nhiêu th́ quá tŕnh luyện tập càng tốt bấy nhiêu, nếu đó là quan điểm tích cực.
Thêm vào đó, nó có thể đề cập trên khía cạnh nếu như các phản ứng đươc gán cho là tương tự với CS (nhà thôi miên hay "người thí nghiệm", chúng tôi mong muốn rằng chủ thể sẽ ít thích thú với thôi miên hơn nếu như anh ấy tiến hành phản ứng theo gợi ư một cách tự nguyện chỉ để làm vừa ḷng nhà thôi miên mà thôi. Nếu như anh ấy làm như thế, anh ấy không cho rằng các phản ứng đó là do nhà thôi miên tạo ra mà là tự ḿnh, và v́ thế mà chủ thể có thể làm tiêu tan mục tiêu của quá tŕnh thôi miên.
Cách mong đợi thứ ba có thể ảnh hưởng tới quá tŕnh thôi miên nếu chủ thể có một khái niệm trước đó về thôi miên. Một ví dụ nói về yếu tố này có ảnh hưởng tiêu cực như thế nào đến quá tŕnh thôi miên là nơi chủ thể mong đợi không chính xác rằng thôi miên là trạng thái vô thức hoặc trạng thái ngủ. Khi chủ thể nhận thấy ḿnh vẫn nhận biết được mọi thứ hay vẫn tỉnh, anh ấy nghĩ rằng anh ấy không hề bị thôi miên. Dĩ nhiên, suy nghĩ tiêu cực này có thể làm mất tác dụng trong khi thôi miên. Tác dụng tiêu cực này, xem như, có thể bị hạn chế bằng cách nói vài lời trước khi tiến hành thôi miên, khi mà chủ thể được giải thích rằng thôi miên không phải là trạng thái ngủ hay vô thức và chủ thể được hướng dẫn để thực sự mong muốn điều ǵ. Một sự mong đợi khác có thể gây ảnh hưởng cho giai đoạn thôi miên đó là chủ thể tin rằng khi bị thôi miên th́ có nghĩa là sẽ phản ứng lại với mọi gợi ư đưa ra trong quá tŕnh thôi miên. Nếu một người gặp thất bại khi phản ứng lại v́ một lư do nào đó, thậm chí sau đó anh ấy phản ứng thành công trước một gợi ư trước đó, th́ anh ấy cũng có thể lựa chọn không thôi miên nữa và ngay lập tức có thể dừng phản ứng trước tất cả các gợi ư dù đă tiến hành thành công. Để hạn chế điều này, có thể tiến hành giới thiệu trước khi thôi miên, chủ thể nên được giải thích bởi v́ không ai giống ai cả, rất có thể có những gợi ư lại có thể tiến hành rất tốt với người này xong lại không tốt với người khác, và v́ thế nó không nên làm phiền đến anh ấy nếu như anh ấy không có phản ứng ǵ trước gợi ư, trong trường hợp này, anh ấy nên đợi gợi ư tiếp theo.
Mong muốn của chủ thể về thôi miên dường như có thể tác động tới thôi miên theo các cách khác nhau. Ví dụ như, nếu một chủ thể được đề nghị giữ nguyên tư thế của tay ở trên cao khi đang bị thôi miên (Orne, 1959), sau đó chủ thể tự nhiên cảm thấy tay ḿnh hạ dần xuống dưới, mặc dù anh ấy cũng đă được đề nghị gián tiếp giữ nguyên tay ở vị trí cao đó. Trái lại, phản ứng này có thể ảnh hưởng đến quá tŕnh thôi miên, cũng như đến các phản ứng tích cực trước những gợi ư trước đó.
Khái niệm cuối cùng của sự mong đợi này đóng vai tṛ then chốt trong các học thuyết về thuật thôi miên: "goal-directed" (White, 1941) và "role-playing" (Sarbin, 1950) . Bản chất trạng thái của các học thuyết này đó là hành vi thôi miên là rất có ư nghĩa, cố gắng đạt được mục tiêu đề ra, và mục tiêu phổ biến nhất của nó chính là những hành động của người bị thôi miên, điều này tiếp tục được định nghĩa bởi nhà thôi miên và được chủ thể hiểu .
Trong hai thí nghiệm gần đây của Barber và Calverley (1964b, 1965), th́ toàn bộ tác dụng của sự mong chờ trong thôi miên đều cho thấy là có tác dụng tốt. Họ nhận thấy họ đều đạt được điểm cao trong khả năng gợi ư của Barber khi các t́nh huống thí nghiệm được định nghĩa như là thuật thôi miên hơn là kiểm soát.
Những nỗi sợ hăi:
Sợ hăi khi không hiểu biết, ngờ vực vào thuật thôi miên, sợ hăi khi phải bộc lộ "những điều bí mật bên trong," ...tất cả những nỗi sợ hăi trên đều ảnh hưởng tới quá tŕnh thôi miên. Cũng do bởi những nỗi sợ hăi này, mà bất cứ những phản ứng tích cực nào trước những gợi mở trong quá tŕnh thôi miên đều trở thành quá tŕnh gây ra nỗi sợ hăi, và do đó, những phản ứng tích cực này có xu hướng bị ngăn chặn hay bị triệt tiêu đi, và cũng theo cách này quá tŕnh ngăn chặn đă h́nh thành cùng với những điều kiện của nó.6 (Lời giới thiệu ban đầu với mục tiêu giảm đi những nỗi sợ hăi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá tŕnh tiến hành thôi miên.) Trái lại, thái độ mạo hiểm của chủ thể cũng có thể dẫn tới thành công của quá tŕnh thôi miên. Và trường hợp này được đưa ra nhằm củng cố thêm cho công việc của Hilgard(1967), ông ta đă đưa ra mối tương quan tích cực giữa sự mạo hiểm và sự nhảy cảm của thuật thôi miên.
Động cơ:
Một điều hiển nhiên là nếu một người nào đó không hề có nhiều hứng thú với việc bị thôi miên, th́ khả năng phản ứng lại một cách tích cực sẽ bị hạn chế rất nhiều. Trong một nghiên cứu của Barber và Calverley vào năm 1996 cho thấy, yếu tố buồn chán và yếu tố từ bỏ ảnh hưởng to lớn như thế nào tới phản ứng của chủ thể trước quá tŕnh thôi miên. Bằng cách lặp đi lặp lại sự giống nhau về thủ tục của quá tŕnh thôi miên đơn điệu trong khoảng thời gian là tám ngày, những người thí nghiệm không c̣n cảm thấy hứng thú nhiều nữa.
Các quan điểm
Thực tế các quan điểm ảnh hưởng tới quá tŕnh thôi miên th́ lại dễ dàng được chấp nhận hơn. (Weitzenhoffer, 1953, p.283). Ví dụ như, trong nghiên cứu gần đây (Dorcus, 1963) cho thấy một sự thật là những dấu hiệu của sự sợ hăi được các nhà thôi miên coi là một dấu hiệu tốt (chẳng hạn, Gindes, 1951) từ đó tín hiệu này cho thấy mức độ triển vọng cao của quá tŕnh thôi miên. Tuy nhiên, tất cả mọi thứ đều giống nhau...nếu như con người thích hợp với mức độ triển vọng của quá tŕnh thôi miên, th́ nó chỉ ra cho thấy nỗi sợ hăi càng cao bao nhiêu th́ sự can thiệp càng lớn bấy nhiêu. Với sự hỗ trợ của lời giới thiệu ban đầu nhằm làm tiêu tan đi sự ảnh hưởng của những quan điểm tiêu cực không hiểu biết ( những quan điểm tiêu cực này sinh ra do quá tŕnh hồi tưởng tới những kích thích nhận biết cạnh tranh), người thí nghiệm c̣n có thể thôi miên 6 người không dễ dàng bị tác động khác nữa. Về khía cạnh này, chúng ta cũng có thể h́nh dung ra công việc của Barber. Trong một nghiên cứu, ví dụ như, nghiên cứu của Barber và Calverley (1964a) đă cho thấy dựa trên những quan điểm bị ảnh hưởng của chủ thể tới bài tập bằng tay (bài kiểm tra gợi ư) th́ họ có thể ảnh hưởng đáng kể tới điểm số gợi ư theo chiều hướng mong đợi. Những chỉ dẫn trước khi tiến hành kiểm tra nhằm mục đích làm cho quá tŕnh nảy sinh quan điểm tiêu cực khi phản hồi nhanh sẽ giảm xuống đáng kể (hầu hết là giảm xuống c̣n bằng 0).
Bây giờ chúng tôi sẽ đề cập đến ba quan điểm đặc trưng đă ảnh hưởng tới quá tŕnh giới thiệu và giải thích về mặt lư thuyết của thuật thôi miên như thế nào.
Quan điểm tiêu cực thứ nhất, mà thường xuyên ảnh hưởng tới quá tŕnh thôi miên được gọi là, "không dễ phục tùng", nó trải dài trong một giai đoạn, đó chính là ư nghĩ luôn luôn mong muốn có thể tự kiểm soát bản thân. Điều này dẫn tới việc giảm đi khả năng dẫn đến các phản ứng tích cực do những gợi ư trong khi tiến hành thôi miên, và do đó nó làm cho quá tŕnh thôi miên không c̣n hiệu quả v́ ư nghĩ tự kiểm soát bản thân không c̣n phù hợp với sự kiểm soát được đưa ra trong quá tŕnh thôi miên. Sự can thiệp này có thể được loại trừ một các tốt nhất nếu như nhà thôi miên không mang quan điểm độc tài như phương pháp của ông. Rất nhiều người có quan niệm sai lầm rằng thôi miên luôn luôn có nghĩa là làm mất khả năng kiểm soát của một người khác. Tuy nhiên nó c̣n tuỳ vào từng trường hợp. Dĩ nhiên một điều có thể xảy ra đó là một người có thể tăng thêm khả năng tự kiểm soát thông qua một người khác khi anh này đang tiến hành kiểm soát bản thân. Việc này có thể tiến hành trong khi tiến hành thôi miên, người thôi miên được coi như người hướng dẫn, người này dạy cho chủ thể những phương pháp mà từ đó anh ấy có thể tự kiểm soát bản thân và kiểm soát những mặt tích cực của bản thân tốt hơn. Anh ấy nói rằng anh ấy có thể hiểu và tŕnh bầy lại mỗi gợi ư do người hướng dẫn đưa ra bằng cách thay thế ngôi "bạn" với "tôi". Chẳng hạn như, nếu người hướng dẫn nói với một người rằng "bạn sẽ cảm nhận thấy tay của bạn đang bị kéo," người đó sẽ tự nói với bản thân rằng, "tôi sẽ cảm nhận tay tôi đang bị kéo." Anh ấy cũng được thông báo rằng anh ấy sẽ không hề phản ứng với gợi ư thông thường nào được đưa ra nếu như nó quấy rối anh với bất cứ lí do ǵ, và anh ấy luôn có thể thức giấc bất cứ khi nào anh ấy muốn.
Vẫn c̣n một cách khác có thể loại trừ vấn đề này đó chính là để chủ thể tự thôi miên chính ḿnh. Thay cho H lại đưa ra S một chuỗi các gợi ư, S tự đưa ra cho bản thân các gợi ư này sau khi được học khái niệm sâu chuỗi là ǵ. Phương pháp này đồng thời c̣n đem lại những lợi ích khác như S có thể h́nh thành nên tốc độ phát triển của bản thân. Anh ấy có thể tiếp tục với gợi ư tiếp theo chỉ sau khi thành công ở gợi ư phía trước đó. Thường th́, nhà thôi miên không thể dành đủ thời gian cho mỗi gợi ư, hay , trái lại, anh ấy không thể dành quá nhiều thời gian cho nó. (Trong bản thân thuật thôi miên, cũng như thuật thôi miên đối với mỗi giới, th́ phản ứng thường diễn ra tích cực chỉ khi nó xảy ra một cách tự nguyện.)
Một quan điểm cản trở thường gặp khác được gọi là quan điểm "lí trí". Luôn mong muốn gải thích một cách lư trí cho mọi sự vật hiện tượng, từ đó chủ thể sẽ ngay lập tức có những phản ứng tích cực hơn là những gợi ư mà nhà thôi miên đưa ra "v́ có những nguyên nhân hợp ư hơn"; ví dụ như.,"Cánh tay của tôi bị hạ xuống bởi v́ nó tự nhiên trở nên nặng hơn khi để nguyên ở một vị trí như thế trong một khoảng thời gian dài," hay, " Đôi mắt tôi nhắm lại bởi v́ tự nhiên chúng khép lại v́ mỏi mắt do nh́n chằm chằm trong khoảng thời gian dài"...Và như đă chỉ ra, điều quan trọng là chủ thể được tập trung vào sự ngẫu nhiên xảy ra CS-CR; đó là, anh ấy có thể đưa ra một phản ứng tích cực khi tiếp nhận những gợi ư của nhà thôi miên. Quan điểm tiêu cực này có thể được loại trừ một cách tốt nhất nếu như chủ thể đó được đưa ra lời giải thích hợp lư về thuật thôi miên trong phần đầu khi giới thiệu. Chẳng hạn như, nên nhấn mạnh rằng không có sự lừa đảo nào trong thuật thôi miên; mà chính các từ ngữ gợi lên điều phi thường đó một cách hết sức tự nhiên; thôi miên đó là một trạng thái mà trong đó các từ ngữ có tác động rất lớn do nó thu hút được sự tập trung cao.
Quan điểm thường thấy thứ ba mà với quá tŕnh thôi miên nó có thể gây trở ngại đó chính là quan điểm hoài nghi. Thái độ hoài nghi này là suy nghĩ, là tiền đề h́nh thành nên phản ứng ngăn chặn những gợi ư và dần trở thành phản xạ khi các gợi ư xâm nhập mạnh mẽ vào kí ức của chủ thể một cách tiêu cực. Khuynh hướng ngăn chặn này ngăn cản một cách tự nhiên phản ứng tích cực do các gợi ư trong khi thôi miên đưa ra. Qúa tŕnh ngăn cản quan điểm hoài nghi này c̣n được giúp sức thông qua việc khẳng định chắc chắn rằng những gợi ư ban đầu trong khi tiến hành thôi miên có khả năng đạt được thành công lớn (ví dụ như., giả thuyết "chevreul pendulum" - xemWeitzenhofer, 1957).
Sự tưởng tượng:
Chúng tôi rất mong muốn rằng chủ thể càng tưởng tượng nhiều ...th́ càng dễ dàng hơn trong việc gợi mở lên những h́nh ảnh sinh động và khả năng phản ứng do những gợi ư càng cao hơn và do đó sự nhảy cảm của quá tŕnh thôi miên càng cao hơn. Điều đó đă được minh chứng bằng những bằng chứng xác thực. Ví dụ, trường hợp anh Hilgard (1967), đă nói về mối tương quan tích cực giữa h́nh ảnh tuổi thơ và tập trung đọc , và sự nhảy cảm của thuật thôi miên.
Tuy nhiên, có thể có một vài giới hạn trong việc xác định sự tưởng tượng sinh động ban đầu đóng một vai tṛ quan trọng như thế nào đối với một chủ thể, có thể phản ứng tích cực do một gợi ư liên quan đến chính mối liên tưởng của chủ thể chứ không hề liên quan tới hành động của nhà thôi miên. Chủ thể đó nên ghi nhớ rằng anh ấy có thể gợi lên những phản ứng tương tự khi sử dụng chính sự tưởng tượng của ḿnh. Và, như đă đề cập, điều quan trọng là chủ thể đưa ra những phản ứng tích cực cho nhà thôi miên.
Tuổi tác:
Theo như bài viết về lĩnh vực này của Weitzenhoffer, lúc đầu khả năng gợi ư và sự nhạy cảm của thuật thôi miên tăng dần lên theo độ tuổi, mà đỉnh điểm là ở độ tuổi từ 7 đến 8 tuổi, sau đó giảm dần một cách đều đặn xuống độ tuổi 20, và bắt đầu dừng hẳn (Weizenhoffer, 1953,p.76). Lí do khiến cho sự biến đổi của khả năng gợi ư này là do yếu tố thay đổi tuổi tác. Một trong số đó là khả năng ngôn ngữ. Từ khi thuật thôi miên phụ thuộc rất nhiều vào phản ứng điều kiện để h́nh thành ngôn ngữ, chúng ta đă hiểu được rằng những đứa trẻ nhỏ, mà khả năng ngôn ngữ của chúng c̣n chưa được tốt, chúng thường nói mà không có chủ ngữ, và đó cũng là lí do tại sao chúng tôi lại mong muốn phát triển từ từ khả năng gợi ư kết hợp với quá tŕnh lớn lên.
Việc giải thích cho lí do tại sao lại giảm dần khả năng gợi ư sau 8 tuổi đó chính là cùng với sự lớn lên các kích thích do quá tŕnh nhận thức cạnh tranh với quá tŕnh tăng khả năng gợi ư (ví dụ như, kiến thức sẽ tăng dần lên theo năm tháng), và dẫn đến kết quả hiển nhiên là sự hỗ trợ ngăn chặn hay vị trí trội hơn trong hệ thống kích thích khi có càng nhiều kích thích trong cùng hệ thống, khi đó khả năng xảy ra của một trong số những kích thích ấy bị tác động trở lại sẽ càng thấp hơn. Các kích thích nhận biết này sẽ phát triển theo nhiều hướng. Ban đầu, chúng ta biết rằng cùng theo năm tháng các kích thích phát ngôn cũng sẽ phát triển theo độ tuổi. Ví dụ như, từ "ngôi nhà" nó bao hàm chung của nhiều nhiều ngôi nhà khi người đó lớn hơn; do đó, nếu một gợi ư được đưa ra, "bây giờ bạn sẽ nh́n thấy một ngôi nhà," sẽ xảy ra sự lựa chọn trong rất nhiều h́nh ảnh "ngôi nhà", và kết quả là chỉ một h́nh ảnh ngôi nhà được đưa ra. Ngoài ra, khi càng lớn lên th́ sẽ có càng nhiều các kích thích nhận biết trái ngược nhau thông qua gợi ư; ví dụ, chủ thể có nhiều thông tin giá trị hơn và nó có thể khẳng định nhưng cũng có thể phủ định gợi ư đưa ra. Cuối cùng, có một sự thật rằng càng lớn th́ sự hoài nghi của con người cũng càng lớn theo. Và như đă chỉ ra ở trên, sự hoài nghi c̣n được xem như là quá tŕnh điều kiện trong đó các gợi ư phát triển theo hướng tiêu cực; ví dụ như., nói con người đi học đúng giờ điều đó không có nghĩa là tất cả mọi người đều đi học đúng giờ.
Bài tóm tắt
Nói một cách ngắn gọn, quá tŕnh cố gắng giải thích về thuật thôi miên được xem như là tập hợp nhân tố ngăn cản có điều kiện - tập hợp các kích thích ngăn cản (cảm giác hay nhận thức) không tương thích với gợi ư mà nhà thôi miên đưa ra. Thủ tục tiến hành thuật thôi miên, được định nghĩa như là quá tŕnh đưa ra hai hay nhiều hơn những gợi ư, chẳng hạn như phản ứng tích cực do một gợi ư sẽ làm tăng khả năng phản ứng của một gợi ư tiếp theo, được thay thế trong một mô h́nh điều kiện bằng các thử nghiệm CS, UCS, UCR, CR mà sự củng cố đă chỉ ra một cách rơ ràng.
Quá tŕnh giải thích cho thuật thôi miên được tập hợp thành một dạng dựa trên ba giả thuyết chính:(1) thôi miên là một hiện tượng có điều kiện; (2) phản ứng có điều kiện trong quá tŕnh thôi miên được coi là một phản ứng ngăn cản; và (3) phản ứng tích cực do một gợi ư sẽ làm tăng khả năng phản ứng của một gợi ư được đưa ra tiếp theo. Bằng chứng đă được đưa ra nhằm củng cố cho những gợi ư này và hơn thế những thí nghiệm đă được đưa ra. Nhiều gợi ư, có thể suy luận từ lư thuyết, để góp phần làm tăng thành công của quá tŕnh thôi miên, được nằm dải rác trong tất cả các phần.
Cuối cùng, một số trong những yếu tố đơn lẻ chính , mà có thể ảnh hưởng tới quá tŕnh thôi miên, được mô tả bao gồm: sự tập trung, uy tín, sự mong đợi, nối sợ hăi, các quan điểm, sự tưởng tượng và tuổi tác.
GIẢI THÍCH CHO HIỆN TƯỢNG KỲ LẠ CỦA THUẬT THÔI MIÊN.
Sự cố gắng đă cho thấy tất cả sự kỳ diệu của thuật thôi miên được giải thích dưới hai dạng giả thuyết sau: Giả thuyết IV- là một giả thuyết liên quan đến phản ứng thèm muốn bằng cách gợi lên những kích thích liên quan đến nhận thức từ đó có những phản hồi lại; và giả thuyết V - quá tŕnh ngăn chặn, tạo ra do gợi ư, làm đơn giản hoá phản ứng theo gợi ư thông qua quá tŕnh cạnh tranh giữa các kích thích nhận biết và các kích thích ngăn chặn. Sự giải thích này được áp dụng cho tất cả mọi hiện tượng kỳ diệu của gợi ư, dù cho gợi ư đó được đưa ra trong trạng thái thôi miên hay trạng thái b́nh thường đi nữa. Nguyên nhân dẫn tới việc gợi ư trong thuật thôi miên có thể sản sinh ra những phản ứng mạnh mẽ hơn những phản ứng trong những gợi ư thông thường là v́ quá tŕnh ngăn chặn được h́nh thành hiệu quả hơn sau khi tiến hành thôi miên.
Theo như tuần tự, đầu tiên chúng tôi sẽ phân tích một số hiện tượng thôi miên trên phương diện giải thích và sau đó sẽ đưa ra những bằng chứng để chứng minh cho những giải thích đó. (Hầu hết những ví dụ của hiện tượng thôi miên mà sẽ được đưa ra đều đă được đề cập trong rất nhiều bài viết về lĩnh vực này của Weitzenhoffer (1953).) Dĩ nhiên, điều này cũng sẽ không thể liệt kê được hết mọi khía cạnh của hiện tượng thôi miên, nhưng như thế cũng đủ để cho người đọc có thể hiểu và thậm chí tiếp nhận cả những hiện tượng thôi miên khác chưa đề cập hết.
Hiện tượng thôi miên
Các ảo giác
Ảo giác trong tài liệu này được định nghĩa là một sự tưởng tượng rất sinh động mà nó đi ngược với cảm giác thực tế và/hay môi trường nhận thức (“thực tế”). Sự tưởng tưởng được định nghĩa như là các kích thích nhận thức xuất phát từ engram, hay h́nh ảnh cảm giác trải nghiệm trước đó, hay những cảm giác hỗn hợp. Kể từ khi engram có thể xem như là thành phần của các phương thức cảm nhận, th́ tưởng tượng cũng được xem như nằm trong phương thức tượng tượng. Và quan trọng là phải thường xuyên kết hợp các sự tưởng tượng đơn lẻ lại với nhau thành một sự liên tưởng hoàn chỉnh.
Ảo giác xảy ra do kết quả của việc gợi ư bởi v́ (1) sự tưởng tượng (kích thích nhận biết) được gợi lên và (2) quá tŕnh ngăn cản đồng thời cũng được gợi lên, mỗi h́nh thức ngăn chặn lại ngăn cản kích thích cạnh tranh trong quá tŕnh lựa chọn kích thích có cấp bậc trội hơn (mỗi quá tŕnh ngăn chặn làm việc rất hiệu quả “thực tế”) do đó sự tưởng tượng tiến lên chiếm một vị trí trội hơn trong hệ thống cấp
bậc.
Một ví dụ đă nói quá tŕnh giải thích được tiến hành như thế nào, chúng ta hăy nói về một gợi ư đưa ra cho một chủ thể đó là có một quả dưa hấu được đặt trên một cái bàn rơ ràng chống rỗng. Trước tiên, gợi ư hăy tưởng tuợng trong đầu về một quả dưa hấu đặt trên bàn, từ đó các từ ngữ này đóng vai tṛ như là tiền đề 'khiến các engams kích thích tức th́'. Tuy nhiên, sự tưởng tượng một cách thông thường này có xu hướng nhanh chóng bị chặn lại bởi sự có mặt của kích thích không tương thích khác trội hơn. Khả năng nh́n thấy cái bàn trống rỗng,..kích thích cảm nhận không tương thích "cái bàn trống" cũng quá đủ để ngăn chặn sự tưởng tượng này. Thêm vào đó, cũng có kích thích nhận thức sai lệch, chẳng hạn như nhận thức rằng quả dưa hấu không có trong mùa hè, hay lại ghi nhớ rằng không có quả dưa hấu nào được đưa vào căn pḥng...Tuy nhiên, nếu như những kích thích không thích hợp, cạnh tranh này có thể bị triệt tiêu hay loại trừ ngay, th́ cuối cùng theo như lư thuyết , quá tŕnh tưởng tượng rất sinh động về quả dưa hấu đặt ở trên bàn sẽ diễn ra (sẽ có một sự tưởng tượng rất sinh động xảy ra nếu như một người tưởng tượng ḿnh ăn một miếng chanh, chúng ta sẽ nhận thấy các phản ứng diễn ra đều liên quan tới quá tŕnh ăn quả chanh như thật vậy - đó là tiết nước bọt, dạ dày tiết dịch vị, bài tiết chất enzyme...). Thuật thôi miên làm đơn giản hoá quá tŕnh ảo giác bởi v́ quá tŕnh ngăn cản mạnh mẽ của thuật miên đă hỗ trợ cho quá tŕnh ngăn cản những kích thích trái ngược.
Gợi lại quá khứ
Gợi lại quá khứ được h́nh thành trên cơ sở gợi ư của thuật thôi miên là một hiện tượng tương tự như các ảo giác do các quá tŕnh gợi ư khi thôi miên h́nh thành nên. Tuy nhiên nó cũng có hai điểm khác nhau cơ bản. Đầu tiên, trong khi gợi lại quá khứ bao gồm sự h́nh thành sự liên tưởng đặc trưng hay liên quan đến tập hợp các sự tưởng tượng trong đó chỉ ra những sự việc hiện tại được thay thế cho những sự việc trong quá khứ, th́ ảo giác lại bao gồm sự kết hợp của các h́nh tượng mới h́nh thành và các mệnh lệnh vừa mới xảy ra (chẳng hạn như tưởng tưởng về một con vật ḿnh sư tử nhưng lại mang đầu hươu cao cổ). Tiếp theo, ảo giác thường xuyên diễn ra trong môi trường giác quan hiện tại (ví dụ như:" Bạn sẽ nh́n thấy con số 7 màu đỏ ở trên tường. "Số 7" chỉ là tưởng tượng, (nhưng bức tường là có thật), ngược lại trong khi tiến hành gợi lại quá khứ, môi trường hiện tại lại có xu hướng được thay thế hoàn toàn bằng một sự liên tưởng khác.
Kiểm soát các phản ứng chức năng sinh lư học
Thôi miên được xem như là một trạng thái mà ở đó nó kiểm soát các phản ứng không chủ tâm tốt hơn. Hầu hết các phản ứng sinh lư học được quan sát trong lớp học. Trong quá tŕnh liệt kê các phản ứng sinh lư học đă được kiểm soát thông qua thuật thôi miên, chúng tôi phát hiện ra những hiện tượng sau đây: sự trao đổi chất (Platinov, 1959,p.110); nồng độ đường trong máu cao(Weitzenhoffer, 1953,p.135); bài tiết enzyme, axit dạ dày, và hệ bài tiết của mật (Weitzenhoffer, 1953,p.153); sự trao đổi nước và sự điều chỉnh nhiệt độ (Platinov, 1959,pp.161,169); Schnech, 1953,p,163; Ulman,1947); sự co bóp dạ con lúc đói (Lewis và Sarbin, 1942); và nhịp tim (Scheck, 1953,p.262).
Ví dụ nói về cơ chế được kiểm soát bằng thuật thôi miên đă đưa ra ở trên được tiến hành như thế nào. Chúng tôi nhận thấy gợi ư tưởng tượng ăn dưa hấu, quá tŕnh tưởng tượng đó dẫn tới những phản ứng ăn ngon lành.
Một ví dụ khác về quá tŕnh kiểm soát sự bài tiết của pepsin. Trong trường hợp này chúng ta tưởng tượng ăn miếng thịt nướng, từ đó pepsin chính là quá tŕnh enzyme tiết dịch vị khi chúng ta ăn protein.
Trong những ví dụ này chúng tôi nhận thấy trong việc gợi lên những phản ứng không chủ tâm điển h́nh trong những câu hỏi, trước tiên chúng tôi phải gợi ra kích thích nhận biết từ đó phản ứng điển h́nh được liên kết lại với nhau. Tác nhân kích thích sinh ra do quá tŕnh triệt tiêu các kích thích cạnh tranh, do đó kích thích nhận biết sẽ tiến tới một vị trí trội hơn trong hệ thống cấp bậc các kích thích và dẫn tới tăng khả năng h́nh thành của các phản ứng.
Các xúc cảm:
Các xúc cảm là một dạng khác của phản ứng không chủ tâm, nó được gợi lên thông qua các h́nh thức gợi ư từ đó gợi lên kích thích nhận biết, và từ kích thích nhận biết này sẽ dẫn tới phản ứng cảm xúc thèm muốn. Nhân tố ngăn cản này sẽ phát triển kích thích nhận biết và đưa kích thích này tới một vị trí trội hơn trong hệ thống kích thích và từ đó sẽ h́nh thành nên một phản ứng xúc cảm mạnh mẽ. Lấy ví dụ như, gợi ư rằng chủ thể đang bị đốt cháy bởi một que cời lửa nóng th́ tự nhiên nỗi sợ hăi tự nhiên h́nh thành. Hay nghĩ đến một điều ǵ đó làm chủ thể tức giận th́ ngay lập tức sự tức giận được h́nh thành.Tương tự theo như cách đó, các xúc cảm cũng có thể được dập tắt bằng phương pháp thôi miên. Chẳng hạn như, sợ hăi có thể được loại trừ bằng cách hăy tập trung vào kích thích nhận biết trái ngược với nỗi sợ hăi. Bác sĩ nha khoa đă sử dụng thuật thôi miên để xóa đi nỗi sợ hăi trong người bệnh của họ bằng cách gợi ư họ hăy thư giăn bằng cách nghe nhạc. Sự kết hợp hiệu quả quá tŕnh ngăn chặn của kích thích nhận biết này kết hợp với nhân tố ngăn chặn trong quá tŕnh thôi miên sẽ tác động và ngăn chặn phản ứng sợ hăi.
Hiện tượng vận động của hệ thần kinh:
Trong hiện tượng thôi miên c̣n bao gồm hiện tượng vận động của hệ thần kinh, chúng tôi có thể liệt kê ra các loại như: thư giăn, hoạt động không chủ tâm, và khả khả năng làm việc (sự mất cảm giác cũng có thể được liệt kê ra ở đây, tuy nhiên nó sẽ được đề cập trong phần hiện tượng "dithionit").
Phản ứng thư giăn h́nh thành nên trong quá tŕnh gợi mở các kích thích nhận biết kết hợp với các phản ứng thư giăn. Điều này có thể tiến hành bằng cách đưa ra gợi ư hết sức đơn giản chẳng hạn như đầu tiên từ "thư giăn" thường xuyên được nói ra th́ sau đó phản ứng thư giăn cũng đồng thời xảy ra, và chủ thể cũng bắt đầu cảm thấy thư giăn hơn. Hay theo cách khác như, chủ thể được đề nghị anh đang trong trạng thái thư giăn khi nằm trong bồn nước ấm hay nằm trên một băi biển đầy nắng ấm.
Một phần của hành động không chủ tâm diễn ra trong quá tŕnh gợi trí tưởng tượng về một phần của hoạt động hay đang trong trạng thái hoạt động. Ví dụ như, chúng ta muốn cánh tay đưa lên, chúng ta có thể tưởng tượng rằng có một dây cáp đang kéo cánh tay ta lên.
Trong tất cả các trường hợp kiểm soát của hệ thần kinh dưới đây, nhân tố ngăn chặn c̣n tác động góp phần làm tăng sức mạnh của kích thích nhận biết thông qua các kích thích ngăn chặn sự quấy rối. Ví dụ như, trong trường hợp để tăng khả năng hoạt động, th́ một dạng của kích thích quấy rối được ngăn chặn đó chính là đau đớn.
Hiếu động thái quá:
Các trạng thái của hiện tượng hiếu động thái quá xuất hiện khi gợi ư trong thôi miên c̣n được giải thích như sau: (Gợi ư làm tăng khả năng nhạy bén gợi lên kích thích nhận biết, mà kích thích này lại là trung tâm hoà giải cho những phản ứng cần lưu tâm; ví dụ như trong trường hợp đỉnh điểm của hiếu động thái quá, đầu óc hoạt động theo một sự chỉ dẫn thích hợp, tập trung mắt, tăng hoạt động của tất cả các bộ phận,...;(2) Gợi ư c̣n h́nh thành nên nhân tố ngăn chặn trong đó nhân tố ngăn chặn này ngăn chặn bất cứ một kích thích nào có xu hướng cạnh tranh với kích thích nhận biết; tương tự như thế, nó cũng ngăn chặn bất cứ kích thích nào quấy rối chủ thể hay cạnh tranh với kích thích thị giác. Chẳng hạn như các kích thích cạnh tranh có thể bao gồm suy nghĩ tiêu cực xảy ra đối với các chủ thể, nhất là khi anh ấy chỉ sống với quá khứ.
Những hiện tượng "dithionit"
Trong những hiện tượng "dithionit" chúng tôi đưa ra những vấn đề giả thuyết có thể xảy ra như chứng mù mắt, mê man, chứng đăng trí và bị liệt. Giả thuyết dẫn tới những hiện tượng "dithionit" này gồm: (1) do trong quá tŕnh gợi lên kích thích nhận biết nhưng kích thích này không tương thích với kích thích hay phản ứng mà chúng ta muốn loại trừ, và (2) do trong quá tŕnh gợi lên nhân tố ngăn cản để ngăn cản những kích thích không tương thích với kích thích nhận biết này.
Theo như giải thích này, chẳng hạn như trong trường hợp giả thuyết bị mù, trước tiên phải gợi lên kích thích đặc trưng "mù" (dĩ nhiên kích thích đó phải không tương thích với phản ứng của các kích thích nh́n thấy). Nói theo cách khác, th́ chủ thể phải có một số khái niệm thuật ngữ mù nghĩa là ǵ. Mặc dù có một số người đă có kinh nghiệm mù thực trước đó, nhưng họ vẫn có thể chỉ ra một số ư nghĩa về khái niệm này. Chẳng hạn như, chủ thể có thể giải thích "mù" có nghĩa là "không có khả năng nh́n thấy giống như ai đó ở trong một căn pḥng tối om". Anh ấy đă từng ở trong những căn pḥng tối om và v́ thế kích thích nhận biết hay sự tưởng tượng về căn pḥng được gợi lên. Từ khi phản ứng do quá tŕnh tưởng tượng này không ăn khớp với quá tŕnh nh́n thấy, th́ kích thích khả năng nh́n thấy sẽ bị hạn chế. (Từ đó chúng ta có thể tiên đoán được rằng các khả năng của con người trong trường hợp giả thuyết bị mù thật tức là gợi ư trực tiếp bị mù sẽ tốt hơn nếu như đưa ra giả thuyết rằng chủ thể hăy t́m thấy anh ta trong bóng tối mù mịt. Lợi ích của việc sử dụng giả thuyết "không trực tiếp" này thay những giả thuyết trực tiếp sẽ được tŕnh bày một cách đầy đủ hơn trong phần tiếp theo.)
Thực tế, bất cứ khi nào hiện tượng ảo giác được gợi ư ra trong khi mắt của chủ thể vẫn đang mở, anh ấy bắt đầu tưởng tượng bị mù dần do các kích thích thị giác không tương thích với ảo giác tạo ra. Ví dụ, nếu chủ thể được yêu cầu rằng khi anh ấy mở mắt anh ấy sẽ ở trong lớp học thứ nhất, anh ấy sẽ nh́n mọi thứ trong lớp nhưng trên thực tế anh ấy sẽ tưởng tượng như không nh́n thấy bất cứ cái ǵ;... Dĩ nhiên, lư do, anh ấy không xuất hiện như một người mù tại thời điểm đó, trong khi anh ấy đang nh́n lớp học của anh ấy.
Một ví dụ khác chỉ ra hiện tượng ảo giác xảy ra sau khi thôi miên như thế nào, chúng ta có thể t́m thấy một điều thú vị trong cuốn Hernandez-Peon, et al. (1960). Anh ấy đă phát hiện ra rằng anh ấy hoàn toàn bị hôn mê không c̣n cảm nhận được kích thích về da khi tiến hành các thử nghiệm khác nhau về kích thích này, như cảm giác bị thiêu cháy. Ở đây ảo giác cảm nhận bị thiêu cháy hạn chế kích thích ngoài da.
Trong quá tŕnh giải thích hiện tượng "dithionit", con người nghĩ rằng không cần thiết gợi lên kích thích nhận biết cụ thể mà nhân tố ngăn chặn sẽ tự nó triệt tiêu đi kích thích bị ngăn chặn. Có một sự thật rằng nhân tố ngăn chặn có thể bao gồm kích thích đặc trưng trong phạm vi riêng của nó và dẫn tới sự ngăn chặn trong phạm vi nhất định. Tuy nhiên, quá tŕnh gợi lên kích thích nhận biết không phù hợp với kích thích này sẽ làm tăng số lượng ngăn chặn, triệt tiêu kích thích thậm chí c̣n hơn nữa.
Cơ chế tập trung trong quá tŕnh giới thiệu về căn bệnh đăng trí thông qua gợi ư cũng tương tự như phương pháp tập trung dẫn đến mù mắt và mê man. Sự khác nhau chính đó là trong khi gợi ư bị mù hay mê man th́ tập trung sự ngăn chặn của kích thích giác quan, c̣n gợi ư của chứng đăng trí th́ tập trung sự ngăn chặn của kích thích nhận biết.
Một dạng khác của chứng đăng trí liên quan đến thuật thôi miên. Nó đề cập đến như là một tật " tự nhiên quên ". Hiện tượng này thường xảy ra trước khi thoát ra khỏi trạng thái thôi miên, mà không hề được trực tiếp gợi ư trong trạng thái lăng quên này. Một cách khác mà trạng thái này có thể xảy ra đó là chủ thể cho rằng lăng quên nó như là một kết quả ngẫu nhiên mà thuật thôi miên gây ra. Trong trường hợp này, con người có thể nói rằng bệnh đăng trí thường được gợi ư, nhưng bằng cách gián tiếp. Nói một cách khác: Để nhắc lại sự kiện trước, các gợi ư thường liên quan đến sự kiện cần thiết. Tự nhiên lăng quên xảy ra bởi v́ khi một người thức giấc sau khi thoát ra khỏi trạng thái thôi miên sâu, th́ những ám hiệu xung quanh anh không c̣n là những tín hiệu mà anh đang tập trung trong khi bị thôi miên. Trong khi bị thôi miên anh ấy hoàn toàn lăng quên mọi thứ xung quanh cũng như anh ấy tập trung vào thế giới ảo do nhà thôi miên tạo nên; do đó, những tín hiệu ở xung quanh không được liên kết với " thế giới ảo này". H́nh thức giải thích này có thể được sử dụng để giải thích tại sao lại khó nhớ lại những giấc mơ sau khi ngủ dậy.
T́nh trạng mất kiểm soát h́nh thành trong khi gợi ư đó chính là khi kích thích nhận thức xảy ra nhưng lại là một kích thích không phù hợp với phản ứng vận động của hệ thần kinh và bị chặn lại. Chẳng hạn như gợi ư rằng chủ thể sẽ không thể di chuyển được lên một vị trí cao hơn vị trí hiện giờ của anh ta trong khi thiết nghĩ anh ta thừa khả năng để di chuyển; hay gợi ư rằng chủ thể sẽ không thể nâng cánh tay của anh ấy khi để anh ấy tưởng tượng rằng anh đang cầm một vật nặng trên tay.
Bằng chứng phục vụ cho việc giải thích hiện tượng thôi miên.
Trong phần này chúng tôi sẽ chỉ ra những bằng chứng phục vụ cho các thuật thôi miên IV và V, cũng như gợi ư nhiều hơn cho những bài kiểm tra của họ. Trong quá tŕnh làm việc này, chúng tôi sẽ không chỉ tŕnh bày những bằng chứng phục vụ cho lư thuyết này, mà chúng tôi đồng thời sẽ gợi ư ra những phương pháp trong đó những gợi ư này sẽ tiến hành hiệu quả hơn;...trong đó chúng tôi có thể tăng khả năng để đạt được những phản ứng hiệu quả hơn, tích cực hơn trước những gợi ư đưa ra7.
Giả định IV: Gợi nên phản ứng thèm muốn bằng cách trước tiên gợi nên kích thích nhận biết trong đó kích thích này phải phù hợp với phản ứng đó.
Trong số phản ứng đó, phản ứng này phải có ư nghĩa với chủ thể, nếu không sẽ không có phản ứng nào đưa đến kết quả. Ví dụ như, nếu như một người thí nghiệm gợi ư chủ thể rằng anh sẽ tiết ra chất enzyme có trong dịch vị (protein enzyme), không phản ứng nào xảy ra do hầu hết con nguời không biết enzyme trong dịch vị là cái ǵ.
Từ thuật thôi miên, chúng ta có thể suy ra số hệ quả tất yếu xảy ra như sau
Hệ quả 7: Kích thích nhận biết càng cao th́ có càng nhiều phản ứng xảy ra do gợi ư hơn và có vị trí ưu thế hơn trong hệ thống (SDH) (ví dụ, trước hết sức mạnh của kích thích nhận biết được trợ giúp bởi nhân tố ngăn cản).
Hệ quả chỉ ra rằng thôi miên có thể gợi nhớ lại những thông tin có nghĩa sẽ dễ dàng hơn quá tŕnh gợi nhớ lại những thông tin vô nghĩa; điều này xảy ra bởi v́ quá tŕnh nhớ lại những thông tin có ư nghĩa được sự trợ giúp của kích thích nhận biết nên sẽ mạnh mẽ hơn là đối với thông tin vô nghĩa. Góp phần cho sự cạnh tranh này là một số các nghiên cứu. Chẳng hạn như, White, Fox và Harris (1940) kiểm tra sự ghi nhớ cho những thông tin vô nghĩa, thông tin ngôn ngữ hữu ích, và thông tin không ngôn ngữ hữu ích (như h́nh ảnh từ các bộ film). Họ thông báo rằng không có lợi lộc ǵ trong thuật thôi miên cho loại thông tin không cần thiết và có khoảng 80% không có lợi lộc ǵ cho thông tin không có ngôn ngữ.
Hệ quả có thể cũng rất đơn giản, ví dụ như, nếu chúng ta muốn tăng các khả năng gợi lại quá khứ, trước tiên chúng ta có thể mở rộng bằng cách gợi ư ra một số trường hợp xảy ra và những trường hợp này phải tạo ra được ấn tượng sâu sắc tại thời điểm tuổi tác đó (ví dụ như từ bỏ nhiều engram) chẳng hạn như sinh nhật hay buổi lễ tổ chức phát bằng.
Hệ quả này đồng thời cũng chỉ ra rằng những gợi ư gián tiếp có hiệu quả hơn gợi ư trực tiếp khi cố gắng kiểm soát những phản ứng không chủ tâm. Minh hoạ cho cái ǵ có nghĩa ở đây chúng ta sẽ xem một số ví dụ sau:
V́ một số phản ứng h́nh thành do quá tŕnh phản ứng nhanh tạo ra sẽ được coi là một yếu tố thực ảnh hưởng tới quá tŕnh thôi miên, các phương pháp đồng thời cũng trở nên có giá trị hơn trong quá tŕnh thôi miên.
Trong ví dụ nói về enzyme có trong dịch vị, nó hàm ư rằng từ pepsin chưa bao giờ kết hợp với việc ăn uống chất protein. Tuy nhiên, một số người lại cho rằng có một số mối liên hệ giữa hai yếu tố này. Có phải gợi ư rằng bài tiết pepsin sẽ dẫn tới bài tiết pepsin trong những người như thế này không? Chắc chắn, tới một mức độ nhất định nào đó; nhưng từ hệ quả thứ hai này chúng ta cũng có thể tiên đoán được là gợi ư trực tiếp về quá tŕnh tiết pepsin này sẽ kém hiệu quả hơn nhiều so với việc gợi ư ăn một miếng thịt nướng. Nguyên nhân của việc này là v́ kích thích nhận biết của một loại thức ăn chứa chất protein như "miếng thịt nướng" chiếm vị trí cao hơn kích thích nhận biết gợi lên bởi từ "pepsin". Từ "pepsin" hầu như không được nói đến một cách thường xuyên trong những bữa ăn có chất protein (một người sẽ thích thú hơn rất nhiều khi nghĩ đến từ "miếng thịt nướng" trong khi ăn hơn là từ "pepsin"), và cũng rất có khả năng không hề có sự liên kết nào nhiều lắm với các từ nói về các dạng protein mà trong đó những chất này đóng vai tṛ như là chất trung gian.
Tương tự như thế, nếu chúng ta muốn một người hăy tiết nước bọt, sẽ khôn ngoan hơn nếu chúng ta sử dụng gợi ư gián tiếp nếm muối, ngậm tranh, hay ăn một bữa ăn ngon hơn là sử dụng phương pháp gợi ư trực tiếp để tiết nước bọt. Trên thực tế chúng ta thường nghĩ đến việc tiết nước bọt thông qua việc nghĩ nguyên nhân nào dẫn đến việc chúng ta tiết nước bọt? Đồng thời nếu chúng ta muốn tăng nhịp đập của tim, chúng ta có thể suy nghĩ đến điều ǵ thật sợ hăi. C̣n nếu chúng ta muốn giảm nhịp đập của tim, chúng ta có thể gợi ư đến điều ǵ đó thật thư giăn.
Bằng chứng để chứng minh sự cạnh tranh này một cách công bằng nhất đó là gợi ư gián tiếp hiệu quả hơn gợi ư trực tiếp trong việc kiểm soát những phản ứng tự nhiên. Kết luận cuối cùng do Ông Weitzenhoffer (1953,p.138) tổng kết trong phạm vi nghiên cứu của ḿnh bao gồm các chức năng tự nhiên.
"...Xuất hiện để tác động tới quá tŕnh tăng các ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc gợi ư trực tiếp trạng thái xúc cảm và các ảo giác. Gợi ư trực tiếp cho bản thân về những thay đổi sẽ ít hiệu quả nhất. Thực tế, rất hiếm khi những phản ứng vô t́nh diễn ra do gợi ư trực tiếp. Nó chứng minh rằng sự giá trị của thuật thôi miên trong đó có nói rằng hầu hết những ví dụ đă đưa ra đều đưa ra sự thay đổi của những phản xạ và những phản ứng tương tự như phản xạ đều được h́nh thành nên do các gợi ư, phản ứng ṿng cung hẳn nhiên là một phản ứng mà trong đó bao hàm các sự tập trung cao trong các vùng vỏ năo hoặc dưới vỏ năo.
Hệ quả 8: Có càng nhiều các kích thích (tương trợ) liên kết với quá tŕnh gợi ư, th́ phản ứng do gợi ư càng mạnh mẽ hơn.
Do đó, nếu chúng ta muốn mô tả quá tŕnh gợi lại quá khứ sinh động, th́ thông minh nhất là nên gợi lại rất nhiều thứ mà chúng ta đă biết và những thông tin đó càng đặc trưng cho một độ tuổi xác định càng tốt, trái với quá tŕnh gợi ư đơn thuần, chủ thể sẽ lùi lại một độ tuổi nhất định. Ví dụ như, người thí nghiệm có thể đưa ra những thông tin chú ư về một ngày đặc biệt trong quá khứ của người bệnh mà họ có thông tin này từ bố mẹ của bệnh nhân và sử dụng nó trong các gợi ư nhớ lại quá khứ của bệnh nhân. Ngoài ra, nếu chúng ta muốn tăng khả năng xảy ra phản ứng không chủ tâm, th́ chắc chắn chúng ta phải tô điểm thêm khá nhiều vào các gợi ư. Ví dụ, thay cho việc chỉ đơn thuần gợi ư chủ thể hăy ăn một miếng thịt nướng, mà chúng ta hăy gợi ư rằng anh hăy ăn một miếng thịt nướng dày, tươi, thơm nức mùi hành.
Giả thuyết V: Nhân tố ngăn chặn làm đơn giản hoá những phản ứng h́nh thành do gợi ư thông qua sự cạnh tranh giữa các kích thích ngăn chặn và kích thích nhận biết.
Dĩ nhiên, gợi ư là khám phá ra những điều đă được nêu ra trong hệ quả 5, dựa trên những yêu cầu từ đó đă chỉ rơ rằng nếu sự h́nh thành nhân tố ngăn chặn mà không phù hợp với các kích thích th́ được quy định trong CS, sự góp mặt của CS sẽ làm đơn giản hoá việc xảy ra của bất cứ phản ứng nào mà có thể bị tác động bởi các kích thích không tương ứng như thế này.
Bây giờ chúng ta hăy nh́n ba hệ quả do giả thuyết này.
Hệ quả 9: Khả năng gợi ư có thể bị giảm đi nếu như kích thích cảm giác bị giảm bớt.
Hệ quả này báo trước rằng, ví dụ, nếu như mắt nhắm lại th́ ánh sáng sẽ tối lờ mờ, kích thích cảm nhận trong cơ thể bị nén lại (như chúng ta đang nằm), các tiếng ồn bị loại trừ...khả năng gợi ư tăng lên. (Bất cứ ai quen thuộc với các lĩnh vực của thôi miên th́ sẽ nhận ra những phương pháp làm giảm bớt cảm giác này như là một phần của phương pháp phổ biến mà hầu hết các nhà thôi miên đều sử dụng). Sự giảm bớt kích thích cảm giác có thể làm giảm vị trí của kích thích này trong hệ thống các kích thích ( và nó c̣n bao gồm các kích thích nhận biết bởi các kích thích cảm giác h́nh thành nên các kích thích nhận biết) và v́ thế tăng phản ứng nhanh tới bất kỳ kích thích nhận biết nào mỗi khi tập trung vào.
Để hỗ trợ cho phần dự đoán này các nghiên cứu về sự giảm bớt giác quan hầu hết đă được đề cập đến , trong đó có đề cập đến sự tăng lên rơ ràng của khả năng gợi ư dựa trên sự giảm bớt giác quan.
Tương tự bằng chứng làm giảm bớt giác quan là các hồ sơ bệnh lư của các bệnh nhân thiếu những bộ phận giác quan. Bộ phận giác quan này bao gồm thị giác (Colman, 1894; Wagener, 1948; Bartlet, 1950; và Weinberger và Grant, 1940); thính giác (Colman, 1894). Sự tác động lớn của ảo giác đă được tŕnh bày trong các nghiên cứu, trong đó đă đưa ra một điểm khả nghi là liệu khả năng gợi ư có được tăng lên. Ít nhất có một báo cáo cũng đă chỉ ra như thế (Sternberg, 1964). Trong báo cáo đó nói các ảo giác được h́nh thành thông qua quá tŕnh tự gợi ư.
Hệ quả 10: Các chất kích thích thực hiện vai tṛ như là các nhân tố ngăn chặn kích thích khiến cơ thể rơi vào trong trạng thái bị tác động cao.
Củng cố cho dự đoán này là rất nhiều nghiên cứu chỉ ra cho thấy rằng các chất kích thích như LSD và Sernyl, là các chất đóng vai tṛ như là những nhân tố ngăn chặn, làm chức năng sản sinh ra các trạng khái gợi ư ở mức cao độ (Barrios, 1965:Sjoberg, 1965; Solursh và Rae, 1966).
Tương tự như thế, các chất kích thích gây mê, chẳng hạn như chất sodium pentothal, dẫn tới trạng thái bị mộng du, chất này được báo cáo rằng có thể tăng khả năng gợi ư mỗi khi dùng một liều lượng nhỏ; ...,khi một liều lượng nhỏ được sử dụng cũng đủ làm con người bất tỉnh hoàn toàn (Weitzenhoffer, 1953,pp.52-54).
Hệ quả 11: Khả năng gợi ư c̣n có thể đạt hiệu quả hơn nếu như các kích thích nhận biết đối nghịch nhưng lại rất hiệu quả được lưu giữ lại.
Nó cũng đă chỉ ra rằng phải hạn chế những quan điểm tiêu cực trước khi tiếp nhận các gợi ư với mong muốn tăng khả năng gợi ư. Đồng thời từ hệ quả này, chúng ta cũng mong muốn rằng phản ứng nhanh trước một gợi ư đưa ra sẽ tốt hơn nếu như nó càng xa lạ đối với một chủ thể khi được gợi ư, hay như Lindzey đă đưa ra (1954,p.27), con người sẽ chấp nhận các gợi ư một cách sẵn sàng hơn "nếu như họ không hề biết ǵ về các đề tài, không thấy đề tài quen thuộc hay họ không thể nhớ ra các đề tài đó..."
Tóm tắt
Để tóm tắt một cách ngắn gọn, đáp lại lời gợi ư ( xem xét xem đó là gợi ư thông thường hay là gợi ư thôi miên ) đưa ra do bởi hai thuộc tính của một lời gợi ư. Các từ của một lời gợi ư có thể đảm nhiệm vai tṛ như tác nhân kích thích có điều kiện mà (1) gây ra những phản ứng đă cho ( thông qua tác nhân kích thích nhận thức thích hợp ) và (2) gợi lên một sự thiết lập rào cản làm tăng sức mạnh của phản ứng đă cho bằng việc triệt tiêu tất cả những tác nhân kích thích ( cả giác quan lẫn nhận thức ) xung khắc với phản ứng đă gợi ư . Lư do mà gợi ư thôi miên hiệu quả hơn gợi ư thông thường là do sự thiết lập rào cản lớn hơn khi con người ở trong trạng thái thôi miên.
GỢI Ư SAU THÔI MIÊN
Tất cả những phản ứng đă sản sinh trong trạng thái thôi miên có thể được đưa vào bên trong trạng thái “thức " thông thường. Đó là, chúng có thể được tạo ra để làm nảy sinh lại trong tâm trạng chúng ta sau khi t́nh trạng thôi miên chấm dứt. Điều này bao gồm việc điều khiển tất cả những chức năng vô t́nh đă đề cập, bao gồm thói quen, thái độ, sự sợ hăi... Việc "mang qua" này có nghĩa ám chỉ những thứ như gợi ư sau thôi miên. Mục đích của phần này là giải thích gợi ư sau thôi miên sản sinh ra những kết quả này như thế nào.
Bước đầu tiên trong việc giải thích là để chỉ ra rằng hiện tượng phi thường này theo hướng gợi ư sau thôi miên có thể được giải thích như là điều kiện mức cao, h́nh mẫu mà Mowrer (1954) đă gọi là câu hay kư hiệu- điều kiện kư hiệu, và cái mà người viết hiện nay quy cho như là nhận thức-điều kiện nhận thức. Bước thứ hai là bằng chứng hiện thực rằng thôi miên có thể làm cho loại điều kiện này trở nên dễ dàng.
Theo đó chúng ta sẽ định nghĩa nhận thức-điều kiện nhận thức và gợi ư sau thôi miên trước tiên. Sau đó chúng ta sẽ cô đọng sự giải thích của hiện tượng phi thường sau thôi miên vào trong hai giả thuyết chính và bằng chứng hiện thực trong việc hỗ trợ chúng.
Những định nghĩa
Nhận thức-điều kiện nhận thức
Nhận thức-điều kiện nhận thức được định nghĩa như là một h́nh thái của điều kiện cao hơn, kết quả từ việc ghép đôi của hai tác nhân kích thích nhận thức.
Điều này khác so với phản xạ có điều kiện hay điều kiện đầu tiên trong đó coi CS và UCS là nhận thức hơn là cảm giác.
Theo một sự mô tả, chúng ta đă muốn chảy nước miếng khi nghe tiếng chuông kêu theo nghĩa nhận thức-điều kiện nhận thức. Theo ví dụ cổ điển của Pavlov về điều kiện, chúng ta có thể thiết lập một mối liên hệ giữa tiếng chuông và đồ ăn bằng 2 từ "chuông" và "đồ ăn".( Do bởi điều kiện trước đó, từ "chuông" đă gợi lên các tác nhân kích thích nhận thức "chuông" và từ "thức ăn" đă gợi lên tác nhân kích thích " thức ăn").
Chúng ta thấy rằng Hebb (1949) đă đưa ra một h́nh mẫu tương tự để giải thích kiến thức trong cơ thể trưởng thành. Theo Hebb, "kiến thức trưởng thành đặc trưng (ngoài pḥng thí nghiệm tâm lư học) là kiến thức có được trong một hoặc một vài sự thử thách. Nó dường như luôn luôn bao hàm một sự kết hợp lại của sự nhận thức quen thuộc và mẫu h́nh quen thuộc của sự vận động.... Như vậy kiến thức người lớn là một mối quan hệ đă thay đổi giữa những tác động trung tâm (tác nhân kích thích nhận thức) của các kích thích tách rời nhau và không liên quan đến các tác nhân kích thích vội vàng hay chủ yếu, phản ứng vận động mà điều khiển được ghi vào trong hoạt động trung tâm... Đó là, hiệu quả trung tâm của cảm giác là cái mà thâm nhập vào trong một quần hợp, hơn cả chính trường hợp cảm giác đơn giản tương đối. Điều này dường như thật sự chân thực của kiến thức hiệu quả nhất-loại kiến thức mà được thiết lập dễ dàng nhất và dai dẳng nhất. (Trang 126-132).
Loại thành quả nhận thức-điều kiện nhận thức có được từ sự gợi ư là khác với từ phản xạ có điều kiện (hay cảm giác-điều kiện cảm giác) trong một cách khác. Một sự gợi ư mà gồm cả 2 từ "chuông" và "thức ăn" bao hàm nhiều hơn việc đơn thuần nói "chuông" và "thức ăn" đơn lẻ hay lặp đi lặp lại "chuông"--"thức ăn","chuông"--"thức ăn"... H́nh thức này của sự gợi ư thường được sử dụng nhiều hơn cả, "bất cứ khi nào bạn nghe chuông, bạn sẽ thấy vị của thức ăn trong miệng của ḿnh”. Gợi ư này làm được 2 điều, nó gợi lên nhân tố kích thích nhận thức "chuông" và "thức ăn", tuy nhiên hơn thế nữa, nó c̣n gợi lên một sự thiết lập rào cản (như làm tất cả những gợi ư) mà hướng đến việc triệt tiêu tất cả những kích thích gây cản trở với quần hợp của các nhân tố kích thích này.
Gợi ư sau thôi miên ( PHS )
Gợi ư sau thôi miên có thể được định nghĩa như là sự gợi ư được đưa ra trong suốt quá tŕnh thôi miên sản sinh nhận thức-điều kiện nhận thức mà tác động sau đó, hành vi hậu thôi miên.
Không phải tất cả những lời gợi ư sản sinh nhận thức-điều kiện nhận thức trong suốt t́nh trạng thôi miên sẽ tác động sau hành vi hậu thôi miên. Liệu hành vi hậu thôi miên bị tác động sẽ phụ thuộc vào những lời gợi ư và vào việc t́nh trạng thôi miên bị chấm dứt thế nào hay không? Ví dụ, lời gợi ư " khi tôi rung chuông bạn sẽ nếm thức ăn" được đưa ra trong suốt t́nh trạng thôi miên hầu như sẽ không tác động sau này, hành vi hậu thôi miên. Điều này là do khi đưa một người thoát ra khỏi t́nh trạng thôi miên dù trực tiếp hay gián tiếp gợi ư rằng người này sẽ quay trở lại trạng thái b́nh thường; ví dụ tất cả những lời gợi ư được đưa ra trong suốt trạng thái thôi miên đó sẽ không c̣n được giữ lâu hơn nữa. Rằng lời gợi ư về sự quay trở lại trạng thái b́nh thường có thể nhanh chóng triệt tiêu điều kiện mà đưa ra vài sự hỗ trợ bởi công việc đă được làm đối với tác động của nhân tố nhận thức điều kiện. Ví dụ Spence (1963) phát hiện ra rằng khi một người mệt mỏi trong điều kiện thí nghiệm đă được đưa tới niềm tin rằng anh ta không phải ở trong pḥng thí nghiệm nữa, việc giới thiệu của CS đă bất th́nh ĺnh được t́m thấy không gợi nên CR nữa.
Những tác động này của việc chấm dứt trạng thái thôi miên đối với nhận thức-điều kiện nhận thức có thể nhận được theo nghĩa những lời gợi ư thích hợp. Ví dụ chúng ta sẽ nói lên lời gợi ư: “Mỗi khi tôi rung chuông, bạn sẽ nếm thức ăn", hoặc hơn thế “sau khi bạn thức dậy, mỗi khi tôi rung chuông, bạn sẽ nếm thức ăn".
Sự giải thích của chẩn đoán sau thôi miên theo hai giả thuyết
Giả thuyết VI: Chẩn đoán sau thôi miên dẫn tới thay đổi hành vi bởi h́nh thái điều kiện cao hơn được gọi là nhận thức-điều kiện nhận thức.
Một sự hỗ trợ mạnh mẽ của giả thuyết là lư thuyết của Mowrer về ngôn ngữ và hành vi, được đưa ra trong bài diễn văn của ông ta với hiệp hội tâm lư học Hoa Kỳ vào năm 1954 (Mowrer 1954) và được mở rộng thêm trong cuốn sách " Learning Theory and the Symbolic Processes" (Mowror, 1960) sau đó của ông. Trong bài diễn văn về vai tṛ của ngôn ngữ trong điều kiện của ḿnh, Mowrer quy định rằng câu (một dạng của gợi ư) có thể hành động theo nghĩa điều kiện. Như điều mà anh ta đưa ra:
Khái niệm theo sự xem xét trong chương này là ... rằng câu là một nhân tố điều kiện và hiệu quả chủ yếu của nó là để sản sinh ra một quần hợp mới, kiến thức mới, chỉ như bất cứ một sự tŕnh bày có đôi nào khác của tác nhân kích thích có thể...
“Bản chất của luận cứ này đă tiến dần tới luận điểm là thuộc tính phức tạp của con người mà chúng ta gọi là một sự xắp đặt đơn giản điều kiện theo nghĩa phản ứng được sản sinh bởi thuộc tính tới nhận cảm trong kích thích đă khuấy động bởi một người (Mowrer, 1960 trang 141-142,147).
Mặc dù trong trích dẫn này Mowrer ám chỉ tới " phản ứng có nghĩa " hơn tới tác nhân kích thích nhận thức, nó sẽ là rơ ràng để cho bất cứ ai đọc Mowrer mà anh ta sẽ cân nhắc hai điều kiện thực hành đồng nghĩa ( xem trang 163-207).
Mowrer tiếp tục” đặt giả thuyết về chức năng ngôn ngữ vào trong một ngữ cảnh có hệ thống hơn bằng cách gộp vào câu điều kiện theo cái mà ông ta gọi là điều kiện “sign-sign" (mà chúng ta ám chỉ như là nhận thức-điều kiện nhận thức). Ông ta chỉ ra rằng kư hiệu không cần phải chỉ là từ ngữ (như là trong điều kiện câu) mà c̣n là các tác nhân kích thích và tâm trạng khác với nghĩa kiếm được.
Điều cơ bản mà Mowrer đang đề cập là các tác nhân kích thích nhận thức tiếp giáp, liệu việc luận ra (đề xuất) bởi lời nói hay bởi các nhân tố khác, có thể ràng buộc sự định h́nh một nhận thức mới, một quần hợp có điều kiện mới lẫn nhau để dẫn tới hành vi mới hay không. Luận cứ của Mowrer ủng hộ cho điều c̣n tranh căi này là khá thuyết phục, và, như ông đă chỉ ra, bằng chứng được dùng để hỗ trợ cho điều này đang bắt đầu được đưa ra ( ví dụ, Staats et al., 1959 ).
Giả thuyết VII: Sự thôi miên tạo điều kiện thuận lợi cho nhận thức - điều kiện nhận thức mà được sinh ra bởi các lời gợi ư.
Đương nhiên, điều này rất rơ ràng với tất cả mọi người, là trong các trường hợp b́nh thường, các lời gợi ư không phải lúc nào cũng dễ dàng được chấp nhận, v́ vậy mà nhận thức - điều kiện nhận thức không phải lúc nào cũng thực hiện sau những đề xuất thích hợp. Tại sao lại như vậy? Chúng ta sẽ thấy rằng câu trả lời cho câu hỏi này sẽ bắt đầu đưa ra một vài quan niệm về mặt thôi miên trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho nhận thức - điều kiện nhận thức.
Osgood (1963) có lẽ đă trả lời tốt nhất câu hỏi này trong bài diễn văn năm 1963 của ḿnh với hiệp hội tâm lư Mĩ khi thảo luận khái niệm của Mowrer coi ư kiến như là một công cụ điều kiện. Theo Osgood, nếu sự khẳng định được tạo ra bởi ư kiến (lời gợi ư) không thích hợp với sự tin tưởng và quan điểm (môi trường nhận thức) hay sự cảm nhận hiện tại (môi trường cảm giác) đă được đề ra trước đó của đối tượng th́ nó có xu hướng bị ngăn cản lại.
Sự cản trở của các kích thích không thích hợp đối với nhận thức - điều kiện nhận thức có thể hiểu được trong các giới hạn của mô h́nh điều kiện nếu chúng ta nhắc lại nguyên lư cơ bản II (nguyên lư điều kiện cơ bản). Nhớ lại rằng, kết quả tất yếu đối với nguyên lư cơ bản này đă nói rơ rằng bất cứ cái ǵ cản trở các sự kiện tiếp giáp nhau trong trọng điểm quan tâm của các kích thích đang được kết hợp sẽ cản trở các điều kiện. Bởi v́ sự tin tưởng, quan điểm, sự nhận thức … không thích hợp hoặc xung khắc sẽ có xu hướng ngăn cản các kích thích nhận thức được ghép đôi, v́ vậy chúng cản trở các điều kiện. Chính v́ thế, chúng tôi sẽ đặt ra giả thuyết rằng bất cứ cái ǵ loại trừ các tác nhân kích thích quấy rầy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhận thức - điều kiện nhận thức.(Giả thuyết này có thể được kiểm tra bằng cách đưa ra trước tiên một t́nh huống nơi có các kích thích cạnh tranh bị loại trừ hoặc bị ngăn cản và sau đó xem xét xem điều này có tạo điều kiện thuận lợi cho nhận thức - điều kiện nhận thức không)
Điều này dẫn chúng ta đến phần mà sự thôi miên tham gia vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho các điều kiện. Chúng ta cảm thấy rằng thôi miên cung cấp một phương tiện đặc biệt hiệu quả (khuynh hướng kiềm chế), do đó các tác nhân kích thích cản trở có thể bị ngăn chặn dễ dàng. Chính v́ thế, người viết không đơn độc khi dùng cách tiếp cận này để giải thích mặt thôi miên tham gia vào các điều kiện được nh́n từ các trích dẫn dưới đây của Leuba:
“Tôi đă cho rằng sự nhanh nhạy và không bị ràng buộc của các điều kiện trong suốt quá tŕnh thôi miên với sự tập trung tương đối trọn vẹn đă nhận được dựa trên các kích thích có điều kiện hoặc không có điều kiện, sự không có mặt hợp lư của xung đột và các phản ứng kiềm chế vào thời điểm của các điều kiện. Tôi h́nh dung sự thôi miên là cung cấp các t́nh huống tưởng tượng cho các điều kiện xảy ra. Nó cung cấp cho người thử nghiệm các phương pháp để loại trừ những biến đổi tâm lư làm rối trí - những kinh nghiệm và suy nghĩ hay quấy rầy.” (1955, p. 10)
Thảo luận về các phương pháp khả thi mà từ đó sự thôi miên tạo điều kiện thuận lợi cho nhận thức- điều kiện nhận thức, chúng ta không chỉ giải thích tại sao sự thôi miên tạo điều kiện thuận lợi trong việc tạo ra các sự kết hợp, mà c̣n giải thích tại sao CR đă sản xuất có thể là sự phản ứng “tự trị theo chức năng” lâu dài đến thế. Hull(1933) dường như quan tâm đến đặc điểm về hiện tượng hậu thôi miên nơi ông thảo luận kết quả nghiên cứu của Patten(1930) về tác động của sự nhắc lại lên sức bền của các phản ứng hậu thôi miên:
“Biểu đồ hợp lại của các kết quả chỉ ra rằng tính chất mạnh mẽ của các phản ứng hậu thôi miên khi biến thiên không đáng kể, thể hiện không có xu hướng hạ thấp, nhưng nếu có điều ǵ th́ tăng không đáng kể. Patten tin rằng với sự luyện tập hàng ngày đề xuất hậu thôi miên th́ có thể kiên tŕ không cần sự nhắc lại của các đề xuất. Tuy nhiên có thể hiển nhiên thấy rằng, sự thực hiện lặp lại của hậu thôi miên đă gợi ra đặc điểm hành động của sự tập luyện lâm sàng, sẽ khá thuận lợi cho việc duy tŕ sức bền của nó.”(trang 164-165)
Cảm nhận rằng tính tự trị theo chức năng của các phản ứng hậu thôi miên có điều kiện có thể được giải thích thoả đáng nhất nếu chúng ta thừa nhận một sự giải thích thuyết cản trở của sự tiêu diệt. Thuyết này nói rằng để một phản ứng bị huỷ bỏ, một phản ứng xung khắc khác phải trở thành phản ứng có điều kiện đối với CS. Một hàm ư của thuyết sự cản trở là nếu CR mạnh hơn phản ứng cản trở tiềm năng , th́ phản ứng cản trở tiềm năng sẽ bị kiềm chế. Cho nên, càng lâu chúng ta càng có CR đủ mạnh để bắt đầu, nó có thể tự tránh bị huỷ bỏ. Hơn nữa, nếu chúng ta có phản ứng có điều kiện mạnh như thế, nó không chỉ huỷ diệt các phản ứng cạnh tranh, mà nó c̣n tự trở thành có điều kiện với các kích thích cản trở tiềm năng. ( Ví dụ như, chúng ta biết rằng nếu chúng ta cố gắng tiêu diệt một phản ứng sợ hăi có điều kiện mạnh mẽ bằng cách cho một con vật ăn trong sự hiện diện trực tiếp của đối tượng bị sợ hăi, chúng ta thấy rằng con vật sẽ sớm trở nên sợ ăn.) Không những CR sẽ kết hợp với các kích thích cạnh tranh mà đương nhiên c̣n kết hợp với các kích thích trung lập. Tất cả các điều này sẽ thoả măn làm cho CR mạnh lên, bây giờ nó sẽ được kết hợp với các kích thích nhiều hơn là chỉ với CS gốc.
Phải đề cập rằng, trong liệu pháp vẫn c̣n có thể có một lư do khác cho một phản ứng hậu thôi miên trở thành tự trị theo chức năng—nó có thể trở nên tự gia cố nhờ sự trợ giúp hay sự thoải mái mới có được mỗi khi phản ứng mới xảy
ra.
Chúng ta đă được thấy một CR mạnh có thể trở thành tự trị theo chức năng như thế nào, nhưng câu hỏi bây giờ là, tại sao CR được thiết lập thông qua PHS lại mạnh như vậy ở địa điểm đầu tiên? Để giải thích điều này, trước tiên chúng tôi cho rằng là ở qui tŕnh của điều kiện, nói chung có hai phần trong sự kết hợp của UCS và CS, một điều kiện kích thích và một điều kiện kiềm chế. Chúng tôi nói đến phần kiềm chế này, nó giống phần ngăn cản các kích thích cạnh trạnh đồng thời của sự kết hợp.
Điều này gần với luận điểm đă được Harlow đưa ra (1959), coi nghiên cứu dẫn đến sự thay đổi sự hạn chế am hiểu về các nhân tố tạo ra sai sót (các kích thích cạnh tranh) hoạt động khi nghiên cứu, trở thành trạng thái riêng biệt (CS).
Trong trường hợp điều kiện thực hiện khi một PHS được đưa ra, sự hạn chế đặt điều kiện cho CS giống như điều kiện đă được phương pháp quy nạp thôi miên tŕnh bày. Bởi v́ chiều hướng này mạnh đến nỗi CR cũng mạnh.
Có thể hiểu được, một nhà lư luận nghiên cứu có thể ngại chấp nhận khả năng qui tŕnh điều kiện tăng cường những thay đổi gây xúc động được tạo ra trong phép chữa bệnh thôi miên. Điều kiện một thử nghiệm và tự trị theo chức năng thường thường không được bắt gặp trong pḥng thí nghiệm. Tuy nhiên, các hiện tượng phổ biến hơn lại ở ngoài pḥng thí nghiệm. Bởi v́ các hiện tượng luận điểm khó có thể ăn khớp với sự sắp xếp hiện tại của các nhà lư luận nghiên cứu -- bởi v́, v́ một lư do nào đó họ không làm cho các đường cong thu được dần dần b́nh thường khớp với các đường cong mất đi nhanh chóng -- điều này không có nghĩa là chúng nên được loại bỏ như các hiện tượng điều kiện. Hơn nữa, các nhà lư luận nghiên cứu nên loại bỏ các thuyết lỗi thời, hay ít nhất là sửa lại chúng để hoàn thiện hơn các hiện tượng này. Sự hạn chế đặt ra cách tiếp cận được nhấn mạnh trong trang này được cho là một sự chỉ dẫn mà các nhà lư luận nghiên cứu có thể sử dụng để đạt được một thuyết nghiên cứu toàn diện hơn.
Bây giờ chúng ta hăy nh́n xem, chúng ta có thể t́m ra bằng chứng để chỉ ra rằng thôi miên thực sự đă tạo điều kiện tốt cho nhận thức- điều kiện nhận thức.
Bằng chứng về thôi miên tạo điều kiện thuận lợi cho nhận thức - điều kiện nhận thức.
Có ít nhất bốn nguồn chứng cớ chúng ta có thể sử dụng để chứng minh giả thuyết thôi miên tạo điều kiện thuận lợi cho nhận thức - điều kiện nhận thức. Một nguồn là từ sự hữu ích của PSH tạo điều kiện thuận lợi cho phương pháp chữa bệnh bằng tâm lư. Một nguồn khác là từ các thí nghiệm đă chỉ ra thôi miên tạo điều kiện thuận lợi cho điều kiện loại một. Nguồn thứ ba là từ sự hữu ích của chính nó trong y học. Cuối cùng, có một công việc thí nghiệm được thực hiện dựa trên đề xuất hậu thôi miên.
Việc làm cho điều trị trở nên dễ dàng thông qua PHS
Như tiến sĩ Barrios (1969, 1970) đă chỉ ra, đề xuất hậu thôi miên đă chỉ ra được các phương pháp có hiệu quả cao trong việc tạo ra những thay đổi hoạt động chữa bệnh. Ba nghiên cứu có qui mô được trích dẫn để chứng minh luận điểm này (Richardson, 1963; Chong Tong Mun, 1964, 1966; và Husain, 1964).
Richardson đă báo cáo tỷ lệ cải thiện của 94.7% trong 76 trường hợp lănh cảm. Con số trung b́nh của các buổi trị liệu là 1, 53. Phần trăm số người đạt được cực đỉnh khoái cảm (tiêu chuẩn đánh giá sự cải thiện) đă tăng trung b́nh từ 24% trước điều trị lên trung b́nh 84% sau điều trị.
Nghiên cứu của Chong Tong Mun gồm 108 trường hợp, bao gồm các bệnh nhân bị bệnh hen, mất ngủ, nghiện rượu, đau bụng kinh, viêm da, t́nh trạng lo lắng và bệnh liệt dương. Phần trăm bệnh nhân được báo cáo có tiến bộ (sự loại bỏ hoàn toàn hoặc cải thiện của các triệu chứng) là 90%. Số lượng trung b́nh các buổi trị liệu là 5. Giai đoạn tiếp theo b́nh quân 9 tháng.
Nghiên cứu của Hussain tŕnh bày nhiều loại chuẩn đoán đa dạng trên 105 bệnh nhân. Đây là những bệnh nhân bị chứng nghiện rượu, t́nh dục bừa băi, bệnh liệt dương và lănh cảm, rối loạn nhân cách xă hội, chứng cuồng loạn, chứng rối loạn hành vi của học sinh, và một số bệnh căng thẳng thần kinh khác. Phần trăm bệnh nhân được báo cáo cải thiện là 95.2%. Số lượng các buổi trị liệu được xếp loại từ 4 đến 16. Tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ là sự loại bỏ hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn các triệu chứng. Phần tiếp theo được xếp loại từ 6 tháng đến 2 năm.
Hỗ trợ tiến hành điều kiện loại một.
Hai nghiên cứu dường như đă chỉ ra thôi miên tạo điều kiện thuận lợi cho điều kiện loại một. Scott (1930) t́m ra rằng anh ta có thể thiết lập một quá tŕnh cai nghiện ngón tay có điều kiện phản ứng nhanh và hiệu quả hơn trong các vấn đề thôi miên. Trong khi chỉ năm trong số chín đối tượng kiểm soát là có điều kiện, trong trung b́nh 26,6 lần thử nghiệm, tất cả các đối tượng bị thôi miên có điều kiện chỉ trong trung b́nh 14,2 lần thử nghiệm. Bốn đối tượng quản lư đă không có điều kiện sau trung b́nh 30, 3 lần thử nghiệm.
Leuba (1940) t́m ra rằng ông ta có thể thiết lập các cảm giác có điều kiện trong S thôi miên của ḿnh trong trung b́nh 6 lần thử nghiệm, thường th́ trong chỉ 1 lần thử nghiệm. Khi thôi miên sâu, 2 kích thích, như là sự rung chuông và châm kim lên tay, được áp dụng đồng thời cho khoảng 6 đôi. Trước khi nhận thức, S được định sẵn chứng quên sau thôi miên cho những ǵ xảy ra. Một vài phút sau khi nhận thức, một trong hai kích thích được bộc lộ và rồi th́ S tự động phản ứng lại cứ như là kích thích khác đă được bộc lộ. Các cảm giác có điều kiện thường rất mạnh và sinh động khi bị sai với cảm giác thực tế. Không may là Leuba không tŕnh bày việc sử dụng một nhóm đối chứng S không thôi miên.
Sự hữu dụng của PHS trong y học
Đề xuất hậu thôi miên được áp dụng rất thành công với các bệnh nhân được nhập viện bị ốm v́ chấn thưong và/hoặc bệnh kinh niên (Cangelo, 1961; Crasilneck et al, 1955; Fogelman và Crasilneck, 1956; Kroger và DeLee, 1943; Marmer, 1956; Mason, 1955; Raginsky,1951; và Schneck, 1953). Trong những nghiên cứu này, chúng tôi t́m thấy đề xuất hậu thôi miên phục vụ cho một số lợi ích khác.Ví dụ như, nó có tác dụng lớn trong giảm đau và giảm nhu cầu về ma tuư. Chúng là sự đau đớn sau khi sử dụng, sự đau đớn do những vết bỏng nặng, và sự đau đớn của ung thư giai đoạn cuối. Nó cũng đă được sử dụng, ví dụ như để kích thích sự ngon miệng cho các bệnh nhân mắc chứng biếng ăn đang gây nguy hiểm cho cuộc sống của họ. (Crasilneck, et al, 1955).Một ư kiến phê b́nh có thể được nhắm vào lợi ích của việc sử dụng các báo cáo bệnh án ở trên như bằng chứng chứng minh luận điểm rằng thôi miên tạo điều kiện thuận lợi cho nhận thức- điều kiện nhận thức trong mọi trường hợp không có nhóm kiểm soát so sánh phù hợp được hoạt động. Đó là, các bệnh nhân được ghép với nhau không được điều trị với đề xuất đánh thức phần hơn là đề xuất thôi miên. Một số người có thể cảm thấy các kết quả đáng lẽ đă đạt được dựa trên cơ sở của đề xuất đánh thức đơn lẻ.
Thí nghiệm được thực hiện dựa trên đề xuất hậu thôi miên.
“Bất chấp sự dồi dào của nguyên liệu và các báo cáo trường hợp có tính chất giai đoạn, đă có vài điều tra thí nghiệm về sự thực hiện hành vi hậu thôi miên”.(Fisher, 1954)
Mặc dù Fisher đă thực hiện bài phát biểu trên năm 1954, nhưng phần lớn, nó vẫn đúng cho tới tận bây giờ.
Phần tiếp theo là bản tóm tắt của hầu hết các nghiên cứu chứng minh hiệu quả của đề xuất hậu thôi miên:
Lundholm (1928) có thể gây ra tật điếc và mù bằng các phương pháp của PHS. Hammer (1954) thấy rằng đề xuất hậu thôi miên của sự thoải mái được tăng lên, sự tập trung, động cơ thúc đẩy và khả năng dẫn đến sự tăng lên đáng kể các nhiệm vụ nghiên cứu đa dạng. Gladfelter và Crasilneck (1960) t́m thấy rằng họ có thể làm tăng kỹ năng từ vựng của S bằng phương pháp đề xuất hậu thôi miên nhắm vào việc đem lại các xúc cảm chắc chắn, sự sợ hăi có tác động lớn nhất. Rosenberg (1960) đă sử dụng PHS để thay đổi thực sự các quan điểm của các đối tượng.
Rất nhiều nghiên cứu đă được thực hiện dựa trên quá tŕnh PHS (Kellogg, 1929; Patten, 1930; Weitzenhoffer, 1950; Edwards, 1954 và Orne, 1963). Nói chung, những nghiên cứu này chỉ ra rằng, mặc dù có một sự suy giảm dần dần toàn diện của phản ứng, trong nhiều trường hợp nó tiếp tục có ảnh hưởng trong một thời gian dài, thậm chí nhiều năm; và trong vài trường hợp không có sự suy tàn.
Cũng có một số nghiên cứu được thực hiện trên các đặc điểm điều tra khác của đề xuất hậu thôi miên. Erickson (1941) đă nghiên cứu tỉ mỉ trạng thái bị thôi miên “tự hạn chế hậu thôi miên tự nhiên” được tạo ra trong sự thực hiện của PHS. Marcuse (1945) đă nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức tỉnh táo về các dấu hiệu và các phản ứng hậu thôi miên lên PHS. Levitsky (1960) đă tổng kết nhiều phương pháp kỹ thuật đa dạng gây ra đề xuất hậu thôi miên.
Một nghiên cứu của Tiến sĩ Barrios (1967, 1973) nhằm cụ thể hơn và kiểm tra giả thuyết thôi miên tạo điều kiện thuận lợi cho nhận thức- điều kiện nhận thức. Kế hoạch thử nghiệm ví như để loại bỏ các thiếu sót phương pháp luận nào đó được kết hợp với hầu hết các thí nghiệm tiền thôi miên. Đứng giữa các kế hoạch thử nghiệm khác, kế hoạch này bao gồm việc sử dụng một nhóm kiểm soát phù hợp cũng như sử dụng các đối tượng bằng những đối chứng của chính họ; một máy ghi âm đă được sử dụng để loại bỏ bất cứ khả năng nào của người thử nghiệm thành kiến v́ những thay đổi trong giọng nói; một thước đo độ sâu của thôi miên phù hợp hơn đă được sử dụng; và một phản ứng không cố ư (sự bảo vệ) đă được dùng để đo điều kiện phần nào hơn phản ứng cố ư thông thường được sử dụng trong hầu hết các thí nghiệm tiền PHS. Những kết quả của các thí nghiệm đă chứng minh ba dự đoán của giả thuyết. Đó là, (1) nhóm thôi miên đă chỉ ra điều kiện lớn hơn đáng kể so với nhóm đối chứng; (2) sức bền của phản ứng có điều kiện cho nhóm thôi miên tương quan tích cực với độ sâu sự thôi miên; và (3) phản ứng có điều kiện được tạo thành một lần là một phản ứng mạnh, khi được chứng minh bởi không có sự triệt tiêu đáng kể.
Tổng kết
Để tổng kết lại một cách ngắn gọn phần cuối cùng này, các hiện tượng của đề xuất hậu thôi miên, mà nhờ đó các phản ứng được tạo ra trong trạng thái thôi miên có thể được chuyển sang trạng thái b́nh thường, được giải thích bởi sự diễn ra thông qua quá tŕnh điều kiện bậc cao hơn. Nó cũng chỉ ra rằng sự hạn chế được tạo ra bởi phương pháp quy nạp thôi miên tạo điều kiện thuận lợi cho điều kiện này. Sự giải thích toàn diện được gói gọn trong 2 giả thuyết và chứng cứ được tŕnh bày để chứng minh nó.
|